Thứ Hai , 12:22, Ngày 26/08/2019

Gia đình và pháp luật

Tòa xử theo kiểu 'thầy bói xem voi'?

Trải qua nhiều phiên xét xử, người tham gia tố tụng liên tục liên tục có đơn kháng cáo, VKS ra kháng nghị, TAND tối cao liên tiếp ra quyết định giám đốc thẩm…

Giao dịch dân sự có “vấn đề”

Hồ sơ vụ án thể hiện: Ông Nguyễn Xuân Cường sinh sống và kinh doanh tại Liên bang Nga. Ông quen biết vợ chồng ông Trần Quang Khánh, Nguyễn Thị Ánh Tuyết (vợ chồng ông Khánh) thông qua vợ chồng ông Lê Phi Hồng, Lê Thị Quỳnh Hương (vợ chồng ông Hồng), là những người cùng sống và làm việc tại Liên bang Nga.

Ngày 13/2/2007, tại phòng công chứng số 3 TP Hà Nội, ông Cường và vợ chồng ông Khánh ký hợp đồng vay tiền với nội dung: Ông Cường cho vợ chồng ông Khánh vay một khoản tiền Việt Nam tương đương 700.000 USD, thời hạn vay 3 năm, lãi suất vay 1%/tháng. Để đảm bảo khoản vay, vợ chồng ông Khánh đã thế chấp nhà, đất tại số 38 phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội.

Hợp đồng vay tiền.

Hồ sơ thể hiện, ông Cường không đưa trực tiếp tiền cho vợ chồng ông Khánh, mà chuyển tiền cho vợ chồng ông Hồng. Ngày 13/2/2007, ông Cường đưa cho ông Hồng số tiền 340.000 USD; ngày 23/2/2007, ông Cường giao cho ông Hồng 160.000 USD; ngày 27/2/2007, ông Cường giao cho bà Hương 200.000 USD. Việc giao tiền cho vợ chồng ông Hồng đều có giấy biên nhận.

Đến ngày 1/3/2007, vợ chồng ông Khánh lập giấy biên nhận, xác nhận có vay của ông Cường số tiền 700.000 USD. Sau đó, vợ chồng ông Khánh có giao hồ sơ gốc  giấy tờ nhà và đất cho ông Cường. Tuy nhiên, vì ông Cường không nhận được tiền gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng, nên làm đơn khởi kiện vợ chồng ông Khánh ra TAND TP Hà Nội.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 50 ngày 15/9/2010 của TAND TP Hà Nội thể hiện nội dung: Bị đơn (vợ chồng ông Khánh) cho biết: Vợ chồng ông Hồng là bạn làm ăn với vợ chồng ông Khánh tại Liên bang Nga. Năm 2005, vợ chồng ông Hồng gặp khó khăn, nên nhờ vợ chồng ông Khánh giúp đỡ. Theo đó, ngày 13/2/2007, vợ chồng ông Khánh ký hợp đồng vay tiền với ông Cường tại Phòng công chứng số 3 TP Hà Nội.

Thực tế, ông Cường không giao cho vợ chồng ông Khánh một khoản tiền nào trong số 700.000 USD nêu trong hợp đồng vay tiền. Người nhận tiền là vợ chồng ông Hồng. Phía bị đơn cho rằng, thực chất giấy biên nhận ngày 1/3/2007 chỉ ghi nhận khống số tiền 700.000 đồng.

Để minh chứng cho lập luận của mình, phía bị đơn đưa ra bằng chứng là 2 tờ giấy xác nhận ghi ngày 21/9/2007 và 8/4/2008 có chữ ký của vợ chồng ông Hồng. Nội dung 2 tờ giấy này phản ánh ông Hồng, bà Hương mới là người vay tiền của ông Cường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Phi Hồng và bà Lê Thị Quỳnh Hương trình bày: Việc thỏa thuận vay tiền, về số lượng tiền vay và các điều kiện vay tiền do ông Cường và vợ chồng ông Khánh tự thỏa thuận, vợ chồng ông Hồng không biết.

Sau khi nhận tiền từ ông Cường, ông Hồng đã giao lại cho vợ chồng ông Khánh số tiền như trong các giấy biên nhận (không có tài liệu chứng minh việc ông Hồng trực tiếp đưa tiền của ông Cường cho vợ chồng ông Khánh- PV). Vợ chồng ông Hồng khẳng định không có nghĩa vụ gì trong giao dịch vay tiền giữa ông Cường với vợ chồng ông Khánh.

Tại trang 6 bản án dân sự sơ thẩm số 50 ngày 15.9.2010 của TAND TP Hà Nội thể hiện nội dung: “Về giấy xác nhận đề ngày 21/9/2007 và giấy xác nhận đề ngày 8/4/2008, ông Hồng, bà Hương không biết về nguồn gốc và cũng không biết ai lập ra nó. Chữ ký trong giấy xác nhận đề ngày 21/9/2007, ông Hồng, bà Hương xác định đúng là chữ ký của vợ chồng ông, bà. Chữ ký trong giấy xác nhận đề ngày 8/4/2008, ông Hồng xác định đúng là chữ ký của ông Hồng. Vợ chồng ông Hồng, bà Hương không thừa nhận nội dung của hai giấy xác nhận nêu trên… Ông Hồng, bà Hương cho rằng, do ông bà và vợ chồng ông Khánh có thời gian buôn bán chung tại Matxcơva, vì thể có thể chữ ký khống của ông Hồng, bà Hương dùng vào mục đích khác, chứ không phải vào giấy xác nhận này”.

Bản án dân sự sơ thẩm số 50 của TAND TP Nội đã tuyên  giao dịch dân sự thể hiện bằng hợp đồng vay tiền ngày 13/2/2007 và giấy biên nhận ngày 1/3/2007 là giao dịch dân sự vô hiệu (giao dịch giữa cá nhân với cá nhân bằng đồng USD là không hợp pháp. Và không đủ căn cứ xác định vợ chồng ông Khánh, bà Tuyết đã nhận 700.000 USD của ông Cường do ông Hồng, bà Hương giao nên yêu cầu đòi nợ của ông Cường đối với vợ chồng ông Khánh, bà Tuyết không được chấp nhận). HĐXX quyết định, buộc ông Nguyễn Xuân Cường phải trả lại giấy tờ nhà đất tại 38 Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội cho vợ chồng ông Trần Quang Khánh và bà Trần Thị Ánh Tuyết…

Tòa xử  chưa khách quan

Do bản án số 50 của TAND TP Hà Nội nói trên bị kháng cáo, nên ngày 18/3/2011, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội tiến hành xét xử vụ án này theo trình tự phúc thẩm. Từ đây, kỳ án vay tiền bị đẩy lên đỉnh điểm.

Tại bản án số 50/2011 ngày 18/3/2011, HĐXX Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội ra phán quyết: Tuyên bố giao dịch dân sự thể hiện bằng hợp đồng vay tiền ngày 13/2/2007 và giấy biên nhận ngày 1/3/2007 giữa nguyên đơn Nguyễn Xuân Cường và bị đơn Trần Quang Khánh và Nguyễn Thị Ánh Tuyết là giao dịch dân sự có hiệu lực. Buộc ông Khánh, bà Tuyết phải trả ông Cường 13.636.000.000 đồng, tương đương 700.000 USD…

Đúng ngày thương binh liệt sỹ 27/7/2012, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ra quyết định giám đốc thẩm số 36/2012: Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 50/2011/DS-PT của tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội và bản án dân sự sơ thẩm số 50/DS-ST của TAND TP Hà Nội. Giao hồ sơ vụ án cho TAND TP Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

Ngày 4/9/2013, TAND TP Hà Nội tiếp tục ra bản án dân sự sơ thẩm số 40, tuyên bố hợp đồng vay tiền ngày 13/2/2007 và giấy biên nhận ngày 1/3/2007 giữa nguyên đơn Nguyễn Xuân Cường với bị đơn Trần Quang Khánh và bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết là giao dịch dân sự vô hiệu. Buộc ông Cường phải trả lại giấy tờ nhà đất tại 38 Quán Sứ, Hoàn Kiếm Hà Nội cho vợ chồng ông Khánh. Buộc vợ chồng ông Hồng có tránh nhiệm trả ông Cường số tiền 14.826.000.000 đồng tương đương 700.000 USD…

Điều đáng nói, tại bản án số 40/2013 của TAND TP Hà Nội đã dẫn chiếu kết luận giám định số 908/C54-P45 ngày 30/1/2013 của Viện Khoa học hình sự- Tổng cục Cảnh sát PCTP kết luận: “Chữ ký đứng tên Lê Phi Hồng dưới mục “người xác nhận” trên giấy xác nhận ngày 8/4/2007 được ký sau khi đã có chữ in phần nội dung của giấy xác nhận; Chữ ký đứng tên Lê Thị Quỳnh Hương dưới mục “người xác nhận” trên giấy xác nhận ngày 21/9/2007 được ký sau khi đã có chữ in phần nội dung của giấy xác nhận… Nội dung của 2 giấy xác nhận này đều khẳng định ông Hồng, bà Hương là người trực tiếp nhận, sử dụng và quản lý toàn bộ số tiền 700.000 USD vay của ông Cường theo hợp đồng vay tiền ngày 13/2/2007 tại Phòng công chứng số 3 TP Hà Nội”.

Như một kịch bản định sẵn, bản án này lại bị kháng cáo, kháng nghị. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 113/2017 ngày 5/5/2017 của TAND cấp cao tại Hà Nội quyết định: Hủy toàn bộ bản án dân sự số 40 ngày 4/9/2013 của TAND TP Hà Nội. Giao hồ sơ cho TAND TP Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

Đến ngày 26/6/2018, TAND tối cao lại ra quyết định giám đốc thẩm số 14/2018 và tuyên hủy bản án dân sự phúc thẩm số 113/2017 ngày 5/5/2017 của TAND cấp cao tại Hà Nội. Giao hồ sơ vụ án cho TAND cấp cao tại Hà Nội xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Các bản án của Tòa án các cấp.

Chúng tôi sẽ theo dõi diễn biến ký án này và cung cấp thông tin đến bạn đọc trong các số báo sau.

PV

Nguồn : Gia đình & Pháp luật

Tags : giám đốc thẩm thầy bói xem voi phòng công chứng số 3 kỳ án TAND TP Hà Nội

Tin Hồ sơ điều tra tiếp theo

Tin Hồ sơ điều tra mới nhất