Thứ Sáu , 17:21, Ngày 26/04/2019

Gia đình và pháp luật

Tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự

Tuần qua, Tòa soạn nhận được thắc mắc của bạn đọc ở xã Bình Trưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Nội dung, bạn đọc hỏi:

“Vừa qua, Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP. HCM ban hành Quyết định giám đốc thẩm vụ án dân sự hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm mà tôi là người tham gia tố tụng. Trong trường hợp này, thời gian xét xử lại vụ án được xác định như thế nào?”.

Trả lời (mang tính tham khảo):

Ảnh minh họa.

Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự: Khi các tranh chấp dân sự xảy ra, các chủ thể có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các tranh chấp, có nhiều trường hợp các chủ thể không thể tự thỏa thuận với nhau và yêu cầu Tòa án giải quyết. Từ khi thụ lý vụ án dân sự, Tòa án chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự. Nếu như hòa giải không thành, Tòa án phải hoàn thiện hồ sơ vụ án để đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa. Các hoạt động này của Tòa án được gọi là chuẩn bị xét xử.

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là tạo mọi điều kiện cần thiết (theo quy định của pháp luật) cho việc xét xử một vụ án lần đầu tại một toà án có thẩm quyền”.

Các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của Tòa án bao gồm: Phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án dân sự; quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa.

Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân theo quy định của pháp luật:

Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

- Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

- Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Các công việc thẩm phán phải thực hiện trong thời hạn chuẩn bị xét xử:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;

- Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;

- Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;

- Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;

- Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;

- Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này.

Một lưu ý là trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây khi có căn cứ theo quy định của pháp luật:

- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

- Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

- Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

- Đưa vụ án ra xét xử.

Nếu trong trường hợp thẩm phán đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. 

Luật gia Đỗ Minh Chánh

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : xét xử dân sự vụ án thời hạn

Tin Tư vấn Luật tiếp theo

Tin Tư vấn Luật mới nhất