Thứ Hai , 15:42, Ngày 16/12/2019

Gia đình và pháp luật

Anh Tư Sang với các bạn tù - Chuyện bây giờ mới kể

Đương thời, anh Tư Sang là vị Chủ tịch nước mặc dù khi giữ chức vụ cao, song hàng năm vẫn dành thời gian gặp mặt các bạn tù vào dịp cuối năm tại 2 điểm.

Đó là: Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo tàng Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày (CSCMBĐBTĐ) Phú Xuyên, Hà Nội. Bảo tàng này do nhóm cựu tù Phú Quốc Lâm Văn Bảng sáng lập từ năm 1980, ngay trên đất vườn nhà.

Năm 2006, được Nhà nước công nhận là bảo tàng tư nhân nằm trong hệ thống bảo tàng Hà Nội. Nơi đây đã lưu giữ được hơn 4000 hiện vật quý và cũng là một trong số những bảo tàng ở Việt Nam mỗi năm thu hút hàng nghìn lượt khách trong và ngoài nước tới tham quan, giao lưu, học tập, tìm hiểu.

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Bảo tàng CSCMBĐBTĐ Phú Xuyên, Hà Nội (24/1/2014).

Năm 2015, Giám đốc bảo tàng Lâm Văn Bảng được công nhận là 1 trong 10 công dân ưu tú của Thủ đô, ông và bảo tàng cũng vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Nơi đây được anh em coi là “nhà Tổ”, là địa chỉ đỏ để hàng năm anh Tư Sang tìm về.

Nhớ lại ngày 10/4/2016, anh Lâm Văn Bảng điện thoại cho tôi, anh dặn: “Nhớ cho cả bà xã lên, vì cuộc gặp chia tay anh Tư và gia đình về Nam, lần này chưa biết tới bao giờ mới gặp lại nhau”. Anh Bảng mời vợ tôi, cũng là vì ngày chúng tôi được trao trả 17/3/1973, vợ tôi lúc đó là chiến sỹ nuôi quân Phạm Thị Khanh của Trung đoàn 8 an dưỡng tại Quảng Ninh, anh em chúng tôi và anh Tư có gần 2 năm tá túc tại đây, nên cũng “mặt tỏ hoa tường” với nhau.

Đúng ngày, chúng tôi lên bảo tàng, để cuộc gặp mặt anh Tư lần này không bị phân tâm, các anh trong ban lãnh đạo tổ chức họp quán triệt: “Hôm nay chúng ta chỉ tập trung thăm hỏi, động viên anh Tư và gia đình về Nam mạnh khỏe, vạn sự như ý, không nói nhiều để anh phải bận lòng trước lúc chia tay”. Sợ anh em “vượt rào”, anh Bảng dặn thêm: “Khi anh Tư còn đương chức, chúng mình đón anh trân trọng thế nào, giờ anh nghỉ hưu cũng phải trân trọng, đầy đặn như thế”.

Đến 2h30’ chiều, ngày 18/4/2016, anh Tư tới bảo tàng, theo thông lệ, chúng tôi xếp thành hai hàng từ ngoài cổng vào để chào đón, bắt tay anh. Sau khi làm xong thủ tục thắp hương cho các liệt sỹ, anh Đỗ Nguyên Lượng lên tuyên bố lý do xong, thì hai cụ Trần Quốc Hương, nguyên Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và cụ Nguyễn Văn Chiển, nguyên Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, thay mặt anh em phát biểu trước, các cụ xúc động nói: “Tấm lòng của anh Tư dành cho các bạn tù không bao giờ nguội lạnh, anh Tư đã làm tất cả những gì anh có thể, để bù đắp cho anh em chúng ta. Nếu không có anh Tư, thì chúng ta không có kết quả như ngày hôm nay”.

Bằng thiện tâm chân thành từ đáy lòng, cụ Chiển vừa phát biểu vừa khóc, khiến chúng tôi cũng không cầm lòng nổi. Anh Tư phải nhanh chóng đứng dậy, phát biểu trấn an: “Cuộc chia tay nào cũng bịn rịn xúc động như thế, nhất là anh em chúng mình khi tuổi đời còn rất trẻ, chỉ mới 17, 18, đôi mươi đã phải sống và chiến đấu giữa bầy sói dữ, cùng sinh tử bên nhau trong địa ngục trần gian Phú Quốc thì nghĩa nặng, tình sâu lắm. Nhưng anh em cứ yên tâm, hàng năm tôi còn phải về quê Đức Thọ, Hà Tĩnh thắp hương cho mộ Tổ và về quê Bình Lục, Hà Nam để dự tất niên với quê vợ, nên vẫn còn gặp nhau được. Có điều, còn công tác ở Hà Nội thì sáng điện chiều gặp, giờ nghỉ hưu đi lại nhiều bằng tiền thuế của dân, đồng bào phê bình cho không hay”. Nghe anh Tư nói, chúng tôi thở phào bảo nhau: “Thế là anh Tư nghỉ hưu, nhưng tình vẫn không hưu”.

Có người hỏi tôi, vì sao anh Tư được các bạn tù trân quý như thế? Lục lại trong ký ức và tư liệu những buổi lên gặp anh Tư tại bảo tàng, có lần anh nói vui và rất thật: “Anh em ta là dân tộc “Tà Ru”, mà lại nói dối Đảng mình là dân tộc Kinh”. Nghe anh “điểm tâm” lại kỷ niệm cũ, mà chúng tôi quặn lòng cười ra nước mắt.

Chẳng là, sau ngày trao trả 17/3/1973, anh em miền Nam trở về quê có gặp may hơn chúng tôi, do tình hình cán bộ nòng cốt ở miền Nam bị thiếu nghiêm trọng, nên trong đó có quan điểm rất rõ ràng thể hiện qua câu định hướng để chọn cán bộ, dùng người: “nhất trụ, nhì tù, tam khu, tứ kết”. Vì thế, anh em tù được trọng dụng, được ưu ái ngay cả khi khám thương tật, sau này là chất độc da cam.

Còn ở miền Bắc gặp khó khăn hơn, anh Vũ Văn Kim quê Bút Tháp, Thuận Thành, Bắc Ninh, là đảng viên được kết nạp trong tù, người rạch bụng 7 lần để phản đối địch đàn áp, tra tấn, đầu độc tù binh, bị địch bắt ngay dưới hầm bí mật khi đang đào, bị kết án 7 năm đày ra Côn Đảo, mãi đến tháng 4/1974; 56 tù có án từ Phú Quốc ra giam tại Côn Đảo mới được địch yêu cầu ta đưa vào diện trao đổi trở về đất liền. Sau này anh gửi cho tôi tờ photo bản lý lịch có ghi nhận xét của cấp trên: “Thành tích của đồng chí Kim là có thật, nhưng vì là tù Phú Quốc nên không bố trí làm cấp trưởng”.

Cách nhìn nhận đánh giá anh em chúng tôi “nhọ như đít chai” ấy, nên hầu hết anh em không được khám thương tật, vì không có vết thương thực thể trong chiến đấu. Các đòn thù tra tấn của địch như đục răng, bị đánh bục ruột, đập vỡ xương đầu gối bánh chè, mắt cá chân, tay, cũng không được xem xét, nên anh em có truyền câu “nhất nghi, nhì ngờ, ba chờ xuất ngũ” cứ ám ảnh anh em.

Ở trong hoàn cảnh phải “thở dài, nói khẽ” bởi các “đạo bùa” yêu nghiệt siết cổ vô hình ấy, nên khi anh em tìm hiểu nhau thì phải hỏi nhỏ: “Anh có phải là dân tộc “Tà Ru” không?” (Tà Rutù ra) hoặc: “Anh có phải là họ Từ không?” (Khi anh em được trao trả tại sông Thạch Hãn, xe đón chở ra Bắc, bên thùng xe có căng băng rôn, khẩu hiệu: “Chào mừng chiến sỹ từ chiến thắng trở về”).

Những cách ứng xử phản cảm, lãng phí người trung kiên từng được tôi luyện xuất sắc trong “trường học” đặc biệt của cách mạng đó, dẫn tới 60% anh em bị xuất ngũ, phục viên về địa phương, phải đối mặt với trăm ngàn khó khăn, cha mẹ già khổ sở neo đơn, bản thân không biết làm gì để có cuộc sống ổn định, nhiều anh em phải cắn răng vượt qua bệnh tật, đòn thù, gia nhập đội quân bất đắc dĩ “ba lô lộn ngược, xuôi tàu Bắc Nam” đi buôn, tìm kế mưu sinh cho qua cơn bĩ cực cuộc đời.

May thay, tại phiên họp Quốc hội cuối năm 1994, anh Tư Sang và đông đảo đại biểu Quốc hội đã thấu tỏ lòng anh em, đều đồng lòng đề nghị Quốc hội thảo luận để đưa đối tượng CSCMBĐBTĐ vào diện hưởng chế độ người có công với nước, kết quả đã thành hiện thực. Ngày 20/12/1995, Nhà nước quyết định trợ cấp một lần với các mức 500 nghìn, 1 triệu, 1,5 triệu, 2 triệu, 2,5 triệu/người tùy thời gian bị bắt, và cam kết “sau này có điều kiện kinh tế sẽ chuyển sang trợ cấp thường xuyên”. Và lời hứa này phải mất 17 năm nhọc nhằn, đến ngày 1/9/2012, trợ cấp hàng tháng mới được thực hiện. Với số tiền là 666 nghìn đồng/tháng, không rơi vào mức nào của diện người hưởng chế độ có công với nước.

Ngay tối hôm nhận được thông tin này, anh Nguyễn Hữu Kết từ Hà Nội điện ngay xuống cho tôi, anh bảo: “Thủ tướng ký cho anh em mình hưởng 3 cái quan tài sáu tấm em ạ!”. Tôi lặng người đi một lúc, rồi trả lời anh dứt khoát: “Chúa Giê-su bị đóng 2 chiếc đinh vào tay treo lên cây thánh giá đã nổi tiếng toàn thế giới. Hàng trăm xác bạn tù mình khi khai quật ở các hố chôn tập thể còn bị đóng 5-10 chiếc đinh, dài 15-20 phân, chả lẽ không xứng đáng hưởng sự đãi ngộ tử tế hay sao?”.

Tại cuộc họp Quốc hội cuối năm 2011, chúng tôi được biết có bàn việc này, anh Tư Sang đưa ý kiến mỗi năm tù cho hưởng 500 nghìn đồng, Thủ tướng nói đất nước còn khó khăn không lo được, nên anh Tư lại đưa phương án hai, lấy mức của năm 1995 áp vào sang ngang. Quốc hội đồng tình ủng hộ cao, sau đó Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước đã thông báo trên báo chí, sao giờ lại xoay ngược kim đồng hồ vậy? Nhà báo Trần Khâm, hiện là Phó Ban Liên lạc CSCMBĐBTĐ toàn quốc có lần kể với tôi: “Khi nghe tin này, đoàn các anh vào gặp chị Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, chị Hải Chuyền cho biết: “Thủ tướng chỉ đạo chỉ giải quyết trợ cấp cho các đồng chí không có bất kỳ chế độ nào”. Đoàn anh Khâm phải ý kiến gay gắt: “Đã hạ mức trợ cấp xuống quá nửa, lại còn khoanh hẹp đối tượng, thì chưa công bằng tí nào!”.

Chị Chuyền hứa “sẽ ghi nhận ý kiến để báo cáo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xem xét lại”. Vì thế, lần nào gặp anh Tư, anh em cũng đề nghị đưa trợ cấp của CSCMBĐBTĐ vào mức thấp nhất, như vợ liệt sỹ tái giá cho đúng khung. Mỗi lần nghe anh em ý kiến, có lẽ anh Tư cũng nhận thấy bất lực, chạnh lòng, anh buồn buồn, nói: “Thôi thì cái nghiệp tù đã vận vào thân chúng mình rồi, giờ có muốn rũ ra cũng không được nữa, còn ai nghĩ và đối xử với chúng ta thế nào thì lịch sử sẽ đối xử với họ như thế!”.

Nhân ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7, khi tuổi chúng tôi đã trên 70, 80 xuân đời, tuổi của sự thanh thản vô tư, thì giờ đây 3 cái “6 tấm”, hay mức thấp nhất của vợ liệt sỹ tái giá cũng chẳng có ý nghĩa gì với anh em. Nhưng trong lòng các CSCMBĐBTĐ vẫn luôn cháy bỏng sự khắc khoải về trách nhiệm, chỉ mong sao Đảng, Nhà nước hãy coi chính sách đối xử với người có công phải nổi trội hơn tất cả. Để xã hội và thế hệ trẻ mai ngày khi nhìn vào tấm gương phản chiếu của cha ông đã từng hiến dâng tuổi trẻ của mình “sống vì Đảng, chết không rời Đảng”, chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đã không sống hoài, sống phí.

Nhà văn Nguyễn Nam Đông

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : cách mạng bảo tàng nhà tù Phú Quốc

Tin Nhân vật - Sự kiện tiếp theo

Tin Nhân vật - Sự kiện mới nhất