Chủ nhật, 07:59, Ngày 01/11/2020

Gia đình và pháp luật

Vụ ly hôn ở Thái Bình: Vi phạm nghiêm trọng tố tụng?

Vụ ly hôn giữa ông Nguyễn Văn Lâm và bà Tạ Thị Chuộng ở Thái Bình được TAND tỉnh Thái Bình xét xử có rất nhiều vấn đề khúc mắc, có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Vụ “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa ông Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1946 với bà Tạ Thị Chuộng sinh năm 1955, đều có hộ khẩu thường trú số nhà 127, đường Lê Quý Đôn, tổ 14, phường Tiền Phong, TP. Thái Bình đang được dư luận quan tâm và bàn tán. Vụ ly hôn này có gì đặc biệt?

Đó là việc Bà Chuộng đã có đơn xin ly hôn nhưng 5 tháng sau ngày 14/10/2014, TAND TP. Thái Bình mới thụ lý, rồi tiếp theo 5 tháng nữa ngày 08/3/2016 vụ án mới chính thức được đưa ra xét xử sơ thẩm. Chuyện này cũng đủ thấy TAND TP. Thái Bình đã vi phạm thủ tục tố tụng dân sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử chứ chưa nói phải chờ đến phiên tòa xét xử Phúc thẩm thì bản án mới có sức thuyết phục…

Tòa án cấp tỉnh xét xử có hơn?

Ngày 08/8/2016, tại phiên xét xử Phúc thẩm TAND tỉnh Thái Bình, bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2016/HNGĐ-ST ngày 08/3/2016 của TAND TP. Thái Bình do Thẩm phán Lê Kiên Trung làm chủ tọa đã mắc những sai lầm sau: Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; Vi phạm nghiêm trọng cả về mặt nội dung khi xem xét không đầy đủ chứng cứ, cố tình bỏ lọt chứng cứ, không xem xét đánh giá đúng giá trị chứng cứ, không triệu tập đủ người liên quan, người làm chứng và nhiều tình tiết khác trong vụ án…

Những vi phạm trên đã dẫn tới việc đưa ra những nhận định thiếu khách quan, gây khó khăn thậm chí không thể khắc phục được cho công tác xét xử ở giai đoạn Phúc thẩm. Cụ thể, việc bà Tạ Thị Chuộng xin ly hôn, ông Nguyễn Văn Lâm cũng đồng ý ngay từ đầu, lẽ ra Tòa sơ thẩm phải ra quyết định thuận tình ly hôn nhưng lại tuyên cho bà Chuộng ly hôn ông Lâm là không đúng.

Tòa sơ thẩm đem chia tài sản của Công ty TNHH Nhựa Phú Lâm cho bà Chuộng nhưng lại không đưa Công ty vào tố tụng là trái Pháp luật vì Công ty là một pháp nhân độc lập, Điều 18 - Điều lệ Công ty có ghi: Tranh chấp nội bộ có thể giải quyết bằng phương pháp thỏa thuận, nếu không sẽ được thông qua cơ quan Pháp luật có thẩm quyền. Còn theo Khoản 11, Điều 8, Luật Doanh nghiệp 2005 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, 2013 về quyền của Doanh nghiệp được trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng theo quy định của Pháp luật.

Việc định giá tài sản của Công ty và giải quyết các vấn đề liên quan đến tài khoản của công ty thì buộc phải đưa Công ty vào tham gia tố tụng. Vì ngoài vấn đề tài sản trong Công ty, thì Công ty còn là chủ thể của nhiều quan hệ kinh tế khác như tài sản của Công ty tại 2 Ngân hàng; Thuế Công ty phải nộp cho Nhà nước; Xuất nhập hàng hóa, vật tư… Ngoài ra, khi xét xử cần phải xem xét đến các chủ nợ của Công ty, nếu xét thấy đủ điều kiện thì phải đưa vào tham gia tố tụng. Vậy mà, Tòa sơ thẩm lại coi tài sản của Công ty TNHH Nhựa Phú Lâm là tài sản chung của vợ chồng thì làm sao có thể chấp nhận được. Bà Chuộng là kế toán ăn lương hàng tháng, sao còn được chia 1/3 giá trị Công ty, trong khi Công ty còn nợ rất nhiều thì Tòa sơ thẩm lại không chia nợ cho bà Chuộng?

Về thu thập chứng cứ Tòa cần làm rõ giá trị số hàng của Công ty còn ở trong kho. Theo nguyên đơn (bà Chuộng) thì giá trị hàng hóa là 1.484.914.000 đồng; theo bị đơn (ông Lâm) giá trị là 1.095.089.780 đồng. Các tài liệu do 2 bên tự xây dựng và xuất trình cho Tòa, lẽ ra Công ty phải tổ chức kiểm kê có đủ các thành phần như Giám đốc, kế toán, thủ quỹ, thủ kho… để xác định giá trị hàng hóa, như vậy mới đảm bảo được tính pháp lý, nếu không thì phải có lý do.

Khi có quyết định cho thuê đất của UBND tỉnh Thái Bình ngày 04/11/2002 (BLsố 370) để xây dựng Công ty (đất hai lúa của 14 hộ gia đình) ông Lâm, bà Chuộng ngày đó phải đền bù hoa lợi, giải phóng mặt bằng, đôn cao ruộng để có bề mặt như hiện nay, nhưng án sơ thẩm lại không xem xét đến nội dung này là thiếu sót.

Tòa cần thu thập đầy đủ các chứng cứ làm sáng tỏ tài sản có và còn nợ của Công ty TNHH Nhựa Phú Lâm để giải quyết nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự. Cần làm rõ yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Tài để áp dụng quan hệ Pháp luật cho phù hợp. Nếu là đòi tiền lương thì do Công ty có trách nhiệm trả, nếu là đòi công sức thì chia công sức trong khối tài sản chung của bố mẹ cho anh Tài để trả tương xứng với công sức của anh đóng góp vào khối tài sản chung. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa đưa đầy đủ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng. Mặt khác, việc thu thập chứng cứ, tài liệu còn thiếu mà ở giai đoạn phúc thẩm không thể khắc phục được.

Từ những nhận xét trên, Hội đồng xét xử Phúc thẩm áp dụng Khoản 3, Điều 308, Khoản 1, Điều 310 - Bộ Luật tố tụng dân sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án. Quyết định:

1- Giữ nguyên quyết định về quan hệ hôn nhân của bản án sơ thẩm số 09/2016/HNGĐ-ST ngày 08/3/2016 của TAND TP Thái Bình, tỉnh Thài bình.

2- Hủy một phần bản án sơ thẩm về quan hệ tài sản và án phí của bản án sơ thẩm số 09/2016/HNGĐ-ST ngày 08/3/2016 của TAND TP Thái Bình, tỉnh Thài bình. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại về quan hệ tài sản theo thủ tục sơ thẩm.

…Nhưng vẫn thiếu

Có thể nói, bản án số 25/2016/DS-PT ngày 08/8/2016 về việc “tranh chấp Hôn nhân & gia đình” của TAND tỉnh Thái Bình là bản án tuân thủ theo đúng quy định của Pháp luật, công tâm, khách quan, có sức thuyết phục. Song, Tòa Phúc thẩm vẫn còn thiếu những tình tiết có dấu hiệu phạm tội mà Tòa sơ thẩm cố tình bỏ qua.

Đó là, trong đơn xin ly hôn ngày 20/5/2014 và bản khai 15/10/2015 tại Tòa của nguyên đơn - bà Tạ Thị Chuộng đã khẳng định có mượn sổ đỏ của ông Lê Văn Độ để thế chấp vay Ngân hàng 3 tỷ đồng. Việc này cơ quan công an đã xác minh và Ngân hàng NN&PTNT - Chi nhánh TP.Thái Bình trả lời: “Trong năm 2003, ông Nguyễn Văn Lâm SN 1946 và bà Tạ Thị Chuộng, SN 1955, trú tại số nhà 127, đường Lê Quý Đôn, tổ 14, phường Tiền Phong, TP Thái Bình không thế chấp sổ đỏ nhà đất mang tên ông Lê Văn Độ, sinh năm 1955, trú tại số nhà 56, đường Phan Chu Trinh, tổ 22, phường Bồ Xuyên, TP Thái Bình (Nay là số nhà 251, đường Lê Quý Đôn, TP Thái Bình) vay vốn tại NHNN&PTNT TP. Thái Bình”.

Tiếp đến, việc gia đình ông Lê Văn Độ, Nguyễn Thị Hợp trú tại số nhà 56, đường Phan Chu Trinh, tổ 22, phường Bồ Xuyên, TP Thái Bình và gia đình ông Trần Trung Dũng lại có biên bản khai tại Tòa:“Vào khoảng năm 2004, hai gia đình chúng tôi có cho ông bà Lâm Chuộng - Công ty TNHH Nhựa Phú Lâm mượn sổ đỏ để thế chấp Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Thái Bình vay số tiền khoảng 3 tỷ đến 4 tỷ đồng làm vốn lưu động sản xuất”. Việc gia đình ông Lê Văn Độ cho Công ty mượn sổ đỏ mà bà Chuộng cũng có đơn và lời khai tại Tòa, cơ quan Công an, NHNN&PTNT - Chi nhánh TP.Thái Bình trả lời như đã nói ở trên.

Còn gia đình ông Trần Trung Dũng khẳng định sự việc không phải như thế: Năm 2008 - 2009, ông Dũng được ông Lâm cho thuê cửa hàng làm đồ gỗ nội thất tại Công ty Nhựa Phú Lâm. Lúc bấy giờ, ông Dũng không có vốn có nhờ ông Lâm quan hệ với NHNN&PTNT - Chi nhánh TP.Thái Bình. Ông Dũng có mang sổ đỏ cùng với ông Lâm ra Ngân hàng làm thủ tục, số tiền vay là 160.000.000 đồng (chứ không phải là 01 tỷ như ông Độ, bà Hợp nói) và ông Dũng là người trực tiếp nhận tiền.

Xác minh vấn đề này chúng tôi được biết, ngày 09/7/2006, UBND TP Thái Bình mới cấp Giấy chứng nhận cho ông Trần Trung Dũng và bà Đỗ Thị Sửu được quyền sử dụng đất. Thế thì năm 2004, ông Dũng lấy sổ đỏ ở đâu ra để cho Công ty Nhựa Phú Lâm mượn thế chấp vay Ngân hàng? Rõ ràng, vợ chồng ông Lê Văn Độ, bà Nguyễn Thị Hợp có hành vi gian dối, lừa đảo. Với tình tiết này có dấu hiệu vi phạm Pháp luật hình sự, thông thường HĐXS Phúc thẩm dân sự phải chuyển hồ sơ cho cơ quan chức năng để điều tra làm rõ.

Báo KD&PL sẽ tiếp tục thông tin về vụ án ly hôn mà hy hữu này trong các số báo sau.

Hoàng Anh/KD&PL

Tin Liên quan

Tags : ly hôn chia tài sản vi phạm pháp luật

Tin Góc nhìn luật gia tiếp theo

Tin Góc nhìn luật gia mới nhất