Thứ Hai , 15:20, Ngày 25/03/2019

Gia đình và pháp luật

Vĩnh Phúc: Tranh chấp tài sản thừa kế, cần một phán quyết công tâm

Một bản di chúc có nhiều điểm không rõ ràng phân chia tài sản chung của vợ chồng, cơ quan chức năng lại giải quyết chưa thỏa đáng ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người dân.

Một thửa đất không phải là đất ông cha để lại mà là tài sản chung của 2 vợ chồng sau khi cưới nhau. Do không có con nên người chồng đã kết hôn với người khác, sau khi ông mất thì tự nhiên xuất hiện 1 bản di chúc không có chứng thực của cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, người làm chứng cho việc lập di chúc cũng không được rõ ràng và việc lập di chúc còn nhiều điểm chưa được làm rõ. Nhưng cơ quan chức năng lại giải quyết chưa thỏa đáng làm ảnh hưởng đến đời sống cũng như sinh hoạt của gia đình. 

Thửa đất đang xảy ra tranh chấp nên gia đình anh Tiến không thể ổn định xây dựng được một ngôi nhà tử tế để sinh sống.

Cụ thể, tòa soạn nhận được đơn kêu cứu của anh Phạm Văn Tiến có địa chỉ tại thôn Phú Cường, xã Đồng Cương, huyện Yên Lạc (Vĩnh Phúc). Trong đơn, anh có cha mẹ là ông Phạm Văn Mở và bà Lưu Thị Tình kết hôn vào năm 1958, do bố mẹ cưới nhau nhưng không có con nên nhận anh và chị Phạm Thị Chinh làm con nuôi, trong thời gian đầu sau kết hôn, bố mẹ anh sinh sống trên mảnh đất của ông bà nội là cụ Mậu và cụ Chuột. Đến năm 1964 bố mẹ anh được HTX cấp cho 1 thửa đất có diện tích 665 m2 (tại thửa đất 812, tờ bản đồ sô 18, tại thôn Phú Cường xã Đồng Cương, huyện Yên Lạc).

Gia đình sống ổn định đến năm 1973, bố anh là ông Phạm Văn Mở bỏ khỏi nhà đi và chung sống với bà Phùng Thị Họa (cùng thôn) như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đồng Cương cấp cho ông 1 mảnh đất ở rìa làng với diện tích 520 m2 và sau đó được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mang tên Phạm Văn Mở, bố anh và bà Họa sinh hạ được 4 người con gồm chị Phạm Thị Thủy, chị Phạm Thị Dung, chị Phạm Thị Thuyên, chị Phạm Thị Dinh.

Kể từ khi bỏ gia đình đi sinh sống với bà Họa đến lúc mất (ngày 07/10/2004), ông Mở không ngó ngàng gì đến mẹ con anh Tiến. Chỉ có mẹ con anh Tiến sinh sống và gây dựng tài sản trên đất. Đến năm 1992, mẹ anh Tiến là bà Lưu Thị Tình được UBND huyện Yên Lạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên mảnh đất 3 mẹ con anh ở.

Bất ngờ khi đến năm 2012, chị Phạm Thị Thủy (1 trong 4 người con của bố anh Tiến và bà Họa) cùng bà Phạm Thị Cám (cháu ruột của bố anh, có bố là ông Phạm Văn Líp, bà gọi cụ Phùng Thị Chuột là cụ nội) đến yêu cầu gia đình anh Tiến phải giao đất cho chị Thủy và bà Cám với lý do trước khi bố anh mất có để lại di chúc (bản di chúc được lập ngày 24/9/2004), nội dung bản di chúc chia cho 4 con riêng của bố anh Tiến 1/3 thửa đất, 1/3 thửa đất cho bà Cám và 1/3 thửa đất cho mẹ anh. Nhưng không được anh đồng ý nên ngày 20/9/2013 chị Thủy và bà Cám làm đơn khởi kiện anh ra TAND huyện Yên Lạc.

Tại bản án sơ thẩm số 07/2015/DS-ST ngày 16/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã thừa nhận đất có nguồn gốc là tài sản chung của bố mẹ anh. Quá trình sử dụng đất qua nhiều năm có nhiều biến động nên diện tích thửa đất hiện nay có diện tích là 658m2. Bản án sơ thẩm quyết định chia 1/2 diện tích đất là 329m2 thuộc quyền sử dụng của mẹ anh. Còn lại 1/2 diện tích là 329 m2 là di sản của bố anh để chia thừa kế theo quy định chia thừa kế theo pháp luật vì cho rằng bản di chúc mà bố anh để lại được chị Thủy và bà Cám cung cấp là giả.

Tuy nhiên tại bản án phúc thẩm của tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, bản án số 64/2015/DS- PT ngày 29/10/2015 lại công nhận bản di chúc của bố anh để lại là đúng. Và thực hiện chia tài sản thừa kế theo bản di chúc. Tuy nhiên phán quyết của Tòa án Phúc thẩm của tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc không nhận được sự đồng tình cũng như sự thuyết phục của gia đình anh bởi nguồn gốc thửa đất mà tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng là do ông bà nội của anh là cụ Mậu và cụ Chuột để lại là không đúng, vì cụ Mậu và cụ Chuột chưa từng sử dụng thửa đất này. Thửa đất này là do chính quyền và HTX cấp cho bố mẹ anh từ năm 1964 và gia đình đã sử dụng ổn định từ năm 1964 đến 1973 khi bố anh bỏ 3 mẹ con đi sinh sống như vợ chồng với bà Họa.

Từ 1973 đến nay 3 mẹ con anh sinh sống ổn định, hơn nữa năm 1992 đã được UBND huyện Yên Lạc cấp GCNQSDĐ mang tên Lưu Thị Tình( mẹ anh - PV). Về tính hợp pháp của bản di chúc mà chị Thủy và bà Cám cung cấp cho rằng bố anh trước khi mất để lại để chia thừa kế và Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc chấp thuận là không hợp lý vì khi lập bản di chúc không có người làm chứng, không có chữ ký của mẹ anh, anh và chị Phạm Thị Chinh, cũng không có chứng thực của công chứng hoặc xác nhận của UBND xã Đồng Cương.

Việc từ bản án của tòa án nhận dân huyện Yên Lạc thì không xuất hiện người làm chứng khi bố anh thành lập di chúc nhưng chỉ sau vài tháng khi tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét sử phúc thẩm thì lại xuất hiện thêm nhiều người làm chứng là điều khó hiểu?

Mặt khác theo anh trước khi bố anh mất thì có mắc bệnh hiểm nghèo là bệnh ung thư phổi, thời gian nằm viện nhiều hơn ở nhà, trước thời gian bố anh mất thì ông bị sống theo kiểu thực vật mấy tháng nhưng bản di chúc được chị Thủy và bà Cám đưa ra lại được ký vào ngày 24/9/2004, tức trước thời điểm bố anh qua đời chỉ chưa đầy nữa tháng khi cuộc sống thực vật và không còn minh mẩn là điều khó hiểu? Và việc tại sao di chúc được lập ra từ ngày 24/9/2004 mà mãi sau 11 năm tức năm 2015 thì chị Thủy và bà Cám mới công bố di chúc?

Trên đây là toàn bộ nội dung phản ánh của anh Phạm Văn Tiến gửi đếm Quý báo. Anh Tiến cùng mẹ là bà Lưu Thị Tình và chị là Phạm Thị Chinh mong muốn Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội cùng Viện Kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xem xét giải quyết theo thủ tục Giám đốc thẩm theo hướng hủy bản án Phúc thẩm số 64/2015/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ngày 29/10/2015 và công nhận bản án sơ thẩm số 07/2015/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc ngày 16/7/2015 để gia đình ổn định cuộc sống.

PV

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : tranh chấp di chúc quyền thừa kế

Tin Nhịp cầu bạn đọc tiếp theo

Tin Nhịp cầu bạn đọc mới nhất