Thứ Hai , 02:36, Ngày 27/05/2019

Gia đình và pháp luật

Về giao kết hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015

Tuần qua, Tòa soạn báo Kinh doanh và Pháp luật nhận được thắc mắc của bạn đọc ở Công ty TNHH TM A., TP.HCM. Nội dung thư, bạn đọc hỏi:

“Xin Tòa soạn cho biết những sửa đổi cơ bản về quy định chung của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015”.

Ảnh minh họa.

Trả lời:

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi giới thiệu khái quát một số nội dung mới liên quan đến phần giao kết hợp đồng.

1- Thay đổi khái niệm hợp đồng:  Điều 385 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. So với BLDS 2005, Bộ luật mới bỏ từ “dân sự”, chính vì vậy khái niệm hợp đồng mang tính bao quát, rộng hơn so với quy định cũ. Nhằm bảo đảm rằng Bộ luật Dân sự là luật chung điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng.

2- Về đề nghị giao kết hợp đồng: Khoản 1 Điều 386 BLDS 2015 quy định “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng”. Một đề nghị giao kết hợp đồng phải thỏa mãn các yếu tố: thể hiện rõ ý định giao kết, phải có sự ràng buộc về mặt pháp lý đối với bên được đề nghị và bên được đề nghị phải được xác định hoặc tới công chúng.

3- Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng: BLDS 2015 (Khoản 1 Điều 394) đã bổ sung thêm quy định này, theo đó khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.  

4- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: Theo đó, Điều 393 BLDS 2015 có bổ sung thêm quy định mới mà trước đó chưa tồn tại trong BLDS 2005: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.

5- Thời điểm giao kết hợp đồng: Khoản 2, khoản 4 Điều 400 BLDS 2015 đã được sửa đổi khác so với quy định BLDS 2005: Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp  đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó. 

Khoản 3, 4 Điều 400 BLDS 2015 quy định: Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định bằng lời nói.

6- Điều kiện chung trong giao kết hợp đồng: Điều 406 quy định: Điều kiện giao dịch chung  là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này. Điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trong trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về điều kiện đó. Trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch chung thực hiện theo quy định của pháp luật. Điều kiện giao dịch chung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên. Trường hợp điều kiện giao dịch chung có quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều kiện giao dịch chung, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì quy định này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Có thể đưa ra một số đặc điểm về nội dung điều kiện giao dịch chung như sau:

Thứ nhất, điều kiện giao dịch chung là những quy định, quy tắc, điều kiện ổn định do một bên trong quan hệ hợp đồng thiết lập từ trước. Thông thường, những quy định này được ban hành một cách đơn phương mà không phải thông qua sự thoả thuận với bên đối tác.

Thứ hai, điều kiện giao dịch chung có sự ràng buộc pháp lý đối với bên được đề nghị nếu bên này đã chấp nhận các điều khoản do bên đề nghị đưa ra và không thể thay đổi, sửa chữa hay huỷ bỏ các quy tắc, quy định này được.

Thứ ba, điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trong trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về điều kiện đó.

Thứ tư, điều kiện giao dịch chung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên. Trường hợp điều kiện giao dịch chung có quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều kiện giao dịch chung, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì quy định này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Cần phân biệt điều kiện chung trong giao kết hợp đồng khác với điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Theo đó điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó; điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng là những điều khoản mang tính ổn định do một bên đưa ra để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghị đã đồng ý chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này.

Ngoài ra, cũng cần phân biệt điều kiện giao dịch chung và hợp đồng theo mẫu. Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung đều giống nhau ở mục đích sử dụng. Hợp đồng theo mẫu không phải là những quy tắc, quy định mà là những điều khoản do một bên soạn thảo để giao dịch với đối tác.

Luật gia Đỗ Minh Chánh
(Ban Pháp luật - Báo Kinh doanh và Pháp luật)

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : quy định hợp đồng Bộ luật Dân sự 2015

Tin Tư vấn Luật tiếp theo

Tin Tư vấn Luật mới nhất