Thứ Tư , 09:35, Ngày 24/04/2019

Gia đình và pháp luật

Uẩn khúc đằng sau một bản án dân sự

Hơn 60 năm sống ổn định tại địa chỉ 203 phố Lò Đúc, gia đình ông Nguyễn Nhượng – một gia đình chính sách đứng trước nguy cơ bị đẩy ra đường vì một bản án dân sự có “vấn đề” của TAND TP Hà Nội.

Bản án “có một không hai”

Bản án số 74/2018/DS-ST ngày 26/10/2018 của TAND TP Hà Nội thể hiện nội dung: Ngày 26/10/2018, TAND TP Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về tranh chấp đòi nhà, đất tại số 203 Lò Đúc, phường Đông Mác, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Phía nguyên đơn gồm: Ông Đỗ Trọng Giai (SN 1953), ông Đỗ Cao Thụ (SN 1939), bà Đỗ Thị Kim Dung (SN 1957) đều trú tại số 44 phố Phù Đổng Thiên Vương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; bà Đỗ Thị Hải (SN 1943, trú tại số 112-A2 tập thể Khương Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội); ông Đỗ Trọng Thược (SN 1951, số 44 Phù Đổng Thiên Vương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội); bà Đỗ Thị Minh Trang (SN 1955, trú tại 20A Hoàng Hoa Thám, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo ủy quyền của các đồng nguyên đơn là ông Đỗ Trọng Giai.

Bị đơn: Ông Nguyễn Nhượng (SN 1930, trú tại 203 phố Lò Đúc, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội).

Theo nguyên đơn trình bày: Ông bà ngoại của các đồng nguyên đơn là cụ Cao Văn Tự và cụ Ngô Thị Thịnh là chủ sở hữu khối bất động sản gồm 1 ngôi nhà chính xây gạch lợp mái ngói và khu nhà phụ lợp mái tranh, cùng một sân gạch nằm trên diện tích đất rộng 371 m2, thuộc thửa đất số 199, khu chữ J, tờ bản đồ số 34 mang bằng khoán điền thổ số 1382, nay là số nhà 203 phố Lò Đúc, phường Đông Mác, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội.

Cụ Tự và cụ Thịnh có một người con gái là bà Cao Thị Cảnh (mẹ của các đồng nguyên đơn). Cụ Tự, cụ Thịnh chết không để lại di chúc, nên khối bất động sản trên thuộc quyền sở hữu của bà Cao Thị Cảnh.

Nguyên đơn cho rằng, diện tích nhà đất tại 203 phố Lò Đúc bị 13 hộ lấn chiếm vào ở bất hợp pháp từ những năm 1954. Cụ thể các hộ gia đình đang ở tại diện tích nhà đất nói trên gồm: Ông Nguyễn Nhượng, bà Đỗ Thị Kim Liên (đã chết, con là Vũ Tiến Đức thay), ông Vũ Văn Quý (đã chết, vợ là Trần Thị Mai thay), bà Dương Thị Bái, bà Nguyễn Thị Viên (đã chết, ông Nguyễn Ngọc Cương thay), ông Nguyễn Văn Thanh, ông Đặng Ngọc Long, bà Hà Thị Tập (đã chết, ông Hoàng Anh Tuấn thay), ông Nguyễn Đỗ Hùng và bà Hoàng Thị Yến, bà Trần Thị Gái, bà Lê Thị Thanh Xuân, bà Nghiêm Thị An (đã chết, bà Trần Thị Gái thay), bà Nguyễn Thị Tý.

Quá trình giải quyết vụ án, các đồng nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đòi nhà đất đối với 12 hộ gia đình, chỉ yêu cầu khởi kiện đòi nhà đất đối với hộ gia đình ông Nguyễn Nhượng.

Phía bị đơn là ông Nguyễn Nhượng trình bày: Gia đình ông ở tại số 203 phố Lò Đúc từ năm 1951. Khi đó, khu vực này là một bãi đất hoang, không có nhà cửa gì và là bãi đổ rác, phế thải của thành phố. Năm 1952, bố ông xin chính quyền làm thành một cái lều mái tre nứa để sinh sống. Đến năm 1990, nhà hư hỏng nặng, ông Nhượng xin phép Sở Xây dựng Hà Nội cho xây dựng lại nhà như hiện nay.

Năm 2013, Nhà nước mở đường Trần Khát Chân, lấy một phần đất của nhà ông và ra quyết định đền bù thu hồi đất. Chính quyền ra quyết định thu hồi đất, đền bù theo đúng chính sách giải phóng mặt bằng…

Đơn kêu cứu của ông Nguyễn Nhượng.

Căn cứ vào công văn số 239 ngày 15/1/2003 của Sở Địa chính nhà đất Hà Nội gửi TAND quận Hai Bà Trưng có nội dung: Theo hồ sơ, tài liệu về nhà đất hiện nay đang lưu giữ tại Sở Địa chính nhà đất thể hiện: Về nguồn gốc nhà số 203 Lò Đúc mang bằng khoán điền thổ số 1382 Đồn Thủy, đứng tên bà Ngô Thị Thịnh và ông Cao Văn Tự; Ngôi nhà số 203 phố Lò Đúc không thấy có hồ sơ thể hiện Nhà nước đã quản lý theo chính sách nhà cải tạo, nhà vắng chủ, nhà công tư hợp doanh trước đây.

Tại công văn số 2872 ngày 8/4/2015 của Sở Xây dựng Hà Nội gửi TAND TP Hà Nội có nội dung: Số nhà cửa hiện nay đang lưu giữ tại Sở Xây dựng thể hiện: Biển số nhà 203 phố Lò Đúc mang bằng khoán điền thổ số 1382 khu Đồn Thủy, có ghi: “đất: Ngô Thị Thịnh vợ hai ông Cao Văn Tự”.

Từ 2 công văn này, HĐXX cho rằng có cơ sở để xác định khối bất động sản tại thửa đất số 199, bản đồ số 34, khu J mang bằng khoán điền thổ số 1382 khu Đồn Thủy, Hà Nội, nay là số nhà 203 phố Lò Đúc, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội là thuộc quyền sở hữu của cụ Ngô Thị Thịnh là vợ hai cụ Cao Văn Tự.

Căn cứ khoản 3 điều 4, khoản 1 điều 11 Nghị quyết 58 ngày 20/8/1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991…., TAND TP Hà Nội xử: Buộc gia đình ông Nguyễn Nhượng, bà Nguyễn Thị Nga, ông Nguyễn Thanh Quang phải trả lại nhà 3 tầng, diện tích 48,5 m2 phía trong và nhà 2 tầng, diện tích 12,62 m2 giáp mặt đường cùng toàn bộ các diện tích phụ sử dụng chung như lối đi, sân, bếp, vệ sinh tại số 203 phố Lò Đúc, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội cho các đồng nguyên đơn do ông Đỗ Trọng Giai làm đại diện.

Buộc các đồng nguyên đơn do ông Nguyễn Trọng Giai làm đại diện phải thanh toán cho gia đình ông Nguyễn Nhượng toàn bộ giá trị xây dựng nhà 3 tầng phía trong diện tích 48,5 m2 và nhà hai tầng giáp mặt đường diện tích 12,62 m2 là 810.332.000 đồng…

 

Bản án của TAND TP Hà Nội.

Nhiều khuất tất chưa được làm sáng tỏ

Theo phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ngày 16/12/2013 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư thuộc UBND quận Hai Bà Trưng, diện tích 16,37 m2 nhà đất 203 Lò Đúc, gia đình ông Nhượng đang quản lý sử dụng ổn định thuộc tờ bản đồ số 6I-III-05; số thửa 49 được cụ Nguyễn Ngọc Xuân và cụ Nguyễn Thị Ứng (bố mẹ ông Nhượng) bàn giao nhà cho ngày 8/11/1987 có xác nhận của chính quyền.

Một sự kiện pháp lý đáng chú ý, ngày 10/1/2005 của Văn phòng Đăng ký đất và nhà thuộc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội có công văn số 30, gửi TAND quận Hai Bà Trưng với nội dung: “Văn phòng Đăng ký đất và nhà- Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội nhận được công văn số 221 ngày 27/7/2004 của TAND quận Hai Bà Trưng hỏi về vị trí thửa đất số 45 tờ bản đồ số 6I-III-05 có nằm trong thửa đất số 199 bản đồ 1956 không, Văn phòng có ý kiến như sau: Sau khi kiểm tra hồ sơ lưu trữ cho thấy thửa đất số 45 tờ bản đồ số 6I-III-05 không nằm trong thửa đất số 199 tờ bản đồ số 34 khu chữ J lập năm 1956”.

Công văn của văn phòng đăng kí nhà và đất.

Từ văn bản này, ông Nguyễn Nhượng cho rằng: Diện tích nhà đất tại 203 Lò Đúc mà gia đình ông đang sử dụng thuộc tờ bản đồ số 6I-III-05, số thửa 49 và thửa đất số 45, tờ bản đồ số 6I-III-05 đều không trùng, không thuộc, không nằm trong thửa số 197-198-199, khu J, đường 164 (Đại Cổ Việt), không phải là thửa đất nguyên đơn đang đòi...?! Điều này đã không được làm sáng tỏ tại Tòa.

Ngoài ra, phía bị đơn cũng viện dẫn khoản 1 điều 255 Bộ luật dân sự 1995 về xác lập quyền sử hữu theo thời hiệu: “1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản, thì trở thành chủ sử hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu”.

Ông Nguyễn Nhượng cho biết: “Gia đình tôi đã quản lý, sử dụng ngay tình, liên tục, công khai diện tích đất tại 203 Lò Đúc từ năm 1952 đến nay, đóng thuế đầy đủ với Nhà nước, đăng ký kê khai, đứng tên trên sổ địa chính và đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Vì không đồng tình với bản án dân sự sơ thẩm số 74/2018/DS-ST ngày 26/10/2018 của TAND TP Hà Nội, ông Nguyễn Nhượng đã làm đơn kháng cáo lên TAND cấp cao tại Hà Nội.

PV

Nguồn : Khỏe 365

Tags : uẩn khúc gia đình chính sách bản án dân sự 203 phố lò đúc gia đình ông Nguyễn Nhượng

Tin Hồ sơ điều tra tiếp theo

Tin Hồ sơ điều tra mới nhất