Chủ nhật, 10:25, Ngày 18/08/2019

Gia đình và pháp luật

Từ tháng 1/2018, dự án chậm bàn giao nhà bị phạt 50 triệu đồng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 139/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm VLXD... với một số điểm đáng chú ý.

Theo Nghị định 139, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng là 1 tỷ đồng; trong lĩnh vực khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở là 300 triệu đồng.

Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với tổ chức (trừ một số trường hợp). Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

Nghị định quy định cụ thể hành vi vi phạm hành chính, mức xử phạt đối với người quyết định đầu tư, chủ đầu tư hoặc chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng công trình.

Từ 15/1/2018, chậm bàn giao dự án theo tiến độ sẽ bị phạt 50 triệu đồng. Ảnh: Anh Lê

Cụ thể, về vi phạm quy định về lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư xây dựng, phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi lựa chọn tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện năng lực tham gia hoạt động: Khảo sát xây dựng; lập quy hoạch xây dựng; lập dự án đầu tư xây dựng; thẩm tra dự án đầu tư xây dựng; quản lý dự án đầu tư xây dựng; thiết kế xây dựng; thẩm tra thiết kế xây dựng, dự toán; thi công xây dựng; giám sát thi công xây dựng; quản lý chi phí đầu tư xây dựng; định giá xây dựng; kiểm định xây dựng; thí nghiệm chuyên ngành xây dựng.

Nghị định quy định, phạt tiền từ 40- 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Thực hiện đầu tư phát triển khu đô thị không tuân theo kế hoạch hoặc chậm so với tiến độ được cấp có thẩm quyền phê duyệt; chậm bàn giao dự án theo tiến độ đã được phê duyệt.

Phạt tiền từ 50 - 60 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Để chủ đầu tư thứ cấp thực hiện đầu tư xây dựng không phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng hoặc tiến độ dự án đã được phê duyệt (nếu có); thay đổi chủ đầu tư cấp 1 mà chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản; điều chỉnh dự án mà chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét chấp thuận; không hoàn thành thủ tục để được công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công trình theo quy định đối với công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng.

Nghị định này sẽ có hiệu lực từ 15/1/2018.

Điểm d, e khoản 1 Điều 14 Luật kinh doanh bất động sản 2006 có quy định như sau:

“d) Trường hợp chủ đầu tư giao bất động sản chậm tiến độ ghi trong hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm với khách hàng theo hợp đồng và phải trả cho khách hàng một khoản tiền lãi của phần tiền ứng trước tính theo lãi suất vayngân hàng thương mại tại thời điểm giao bất động sản tương ứng với thời gian chậm tiến độ.

e) Việc chọn lãi suất vay ngân hàng thương mại quy định tại điểm d và điểm đ của khoản này phải được thỏa thuận trong hợp đồng".

Do vậy công ty xây dựng có trách nhiệm bàn giao nhà cho bạn đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp chậm bàn giao nhà thì phải bồi thường theo thỏa thuận và phải chịu mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng, mức lãi suất trong hợp đồng không được vượt quá mức lãi suất mà pháp luật quy định. Căn cứ vào những thông tin anh cung cấp, thì công ty xây dựng sẽ phải bồi thường với mức lãi suất đã thỏa thuận là 1,5%/tháng/tổng số tiền khách đã nộp. Việc công ty chỉ trả với mức lãi suất là 0,7% là không đúng nếu không được sự đồng ý của anh

Để bảo vệ quyền lợi của mình anh có thể gửi đơn kiện công ty xây dựng tới Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã nơi có bất động sản căn cứ theo khoản 1 Điều 33, điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung 2011). Hoặc nếu trong hợp đồng mua bán nhà giữa anh với công ty xây dựng có điều khoản về việc giao nhà chậm là căn cứ để bên mua hủy hợp đồng thì anh có thể hủy hợp đồng và yêu cầu bên phía công ty bồi thường, căn cứ theo Điều 425 Bộ luật dân sự:

“1. Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

2. Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

3. Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền.

4. Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi thường thiệt hại.”

Theo Nhân đạo & Đời sống

Tin Liên quan

Tags : dự án chung cư Xử phạt bàn giao nhà

Tin Nhà đất tiếp theo

Tin Nhà đất mới nhất