Thứ Tư , 03:39, Ngày 14/11/2018

Gia đình và pháp luật

Thái Bình: Chiếm giữ tiền và ô tô có cấu thành tội phạm hay không?

Đến nay, sau hơn 02 năm bà Nhung vẫn chiếm giữ tài sản (tiền và ô tô) cho dù bà có lấy lý do gì đi chăng nữa thì cũng không thoát khỏi trách nhiệm của mình.

Vừa qua, Tòa soạn nhận được đơn của ông Trần Tiến Dũng, sinh năm 1953, trú tại xã Minh Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đề nghị làm rõ việc: Bà Nguyễn Thị Nhung - Giám đốc Công ty TNHH Đồng Phú Thành (sinh năm 1975 , trú tại thôn Đồng Cống, xã Đồng Phú, huyện Đông Hưng, Thái Bình) bán cho ông 02 chiếc xe ô tô tải với tổng giá trị 230.000.000 đồng. Đến nay, đã hơn 02 năm ông yêu cầu bà Nhung giao xe hoặc trả lại tiền thì bà Nhung cứ quanh co và có những biểu hiện gian dối hòng chiếm đoạt tài sản. Ông Dũng đã phải nhờ đến Chính quyền và các cơ quan Bảo vệ Pháp luật giải quyết… nhưng vụ việc lại đi theo chiều hướng khác.

Sự thật nằm ở đâu?

Trong đơn tố cáo gửi Công an huyện Đông Hưng, ông Trần Tiến Dũng cho biết: Do Doanh nghiệp của ông có quan hệ hợp tác làm ăn với Doanh nghiệp của vợ chồng bà Nguyễn Thị Nhung từ lâu nên ngày 03/10/2015, bà Nhung đến gặp ông Dũng kêu khó khăn, rất cần tiền muốn bán lại chiếc xe ô tô tải BKS 17C - 047.14 cho ông với giá 130.000.000đ. Nể tình, ông đã mua và khi 2 bên viết giấy mua bán xong thì bà Nhung đề nghị ông Dũng cho mượn lại xe để hoàn thành công trình đang thi công dở, thời hạn là 01 tháng (Có Giấy biên nhận mượn xe).

Giấy bán, cho, tặng xe và giấy biên nhận cho mượn xe ô tô.

Hơn 2 tháng sau, ngày 20/12/2015, chị Nhung đến nhà ông Dũng không phải để trả xe và đưa giấy tờ xe (theo giấy biên nhận đã cam kết) mà lại tiếp tục đề nghị ông Dũng mua nốt cho chiếc xe ô tô tải khác BKS 17K - 6857 với giá tiền 100.000.000 đồng, rồi cũng xin mượn lại 10 ngày. Đến nay, đã hơn 02 năm bà Nhung không giao xe và cũng không trả lại tiền, khi ông Dũng làm đơn tố cáo đề nghị cơ quan Công an điều tra xác minh làm rõ và khởi tố vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì bà Nhung lại đưa ra những tình tiết: Ngày 21/10/2015, bà đến vay ông Dũng 245 triệu đồng để đáo nợ ngân hàng, ông Dũng yêu cầu bà viết 01 giấy vay tiền và một giấy bán xe ô tô tải nhãn hiệu Cửu Long màu xanh BKS 17C - 047.14 khi nào trả tiền thì ông Dũng đưa giấy vay tiền và giấy bán xe trên.

Ngày 20/12/2015, bà Nhung đến nhà ông Dũng vay 100 triệu đồng để đáo hạn ngân hàng, bà cũng viết 01 giấy vay tiền và 01 giấy bán xe ô tô BKS 17K - 6857. Nhưng lần này bà Nhung đã tính toán kỹ hơn, bà đưa ra thông tin “thời gian và số tiền trùng khớp với ngày và tiền bán chiếc xe 17K - 6857 cho ông Dũng.

Vậy xin hỏi bà Nhung và CQCSĐT CA huyện Đông Hưng: Chiếc xe ô tô BKS 17C - 047.14 bà Nhung đã bán cho ông Dũng vào ngày 03/10/2015, thì ngày 21/10/2015 bà Nhung lấy đâu ra xe để bán nữa? Bà Nhung có biết lúc khó khăn cần tiền phải bán xe, ông Dũng đã mua cho, khi cầm được tiền ngay lập tức bà xin mượn lại xe 1 tháng, ông Dũng cũng đồng ý và 2 bên viết giấy biên nhận cho mượn xe ô tô. Bản thân bà đã thừa nhận chữ ký trong giấy biên nhận cho mượn đúng là của bà và dấu của công ty TNHH Đồng Phú Thành.

Tương tự, chiếc xe ô tô tải BKS 17K - 6857 bà Nhung cũng đã bán cho ông Dũng, bà cũng thừa nhận có ghi các chữ “tôi đã nhận đủ số tiền 100.000.000 đồng”. Thế mà, bà Nhung vẫn còn trắng trợn nói là không có giấy biên nhận cho mượn lại xe ô tô và đổ cho ông Dũng chỉ trả giấy vay tiền chứ không trả giấy bán 2 chiếc xe ô tô? Nếu vậy tại sao ngay lúc đó bà Nhung không có ý kiến gì? Tại sao vay 245 triệu khi trả ông Dũng không đưa giấy bán xe BKS 17C - 047.14 mà lần sau bà vẫn tiếp tục đến vay mượn ông Dũng 100 triệu?

Cho nên, việc mua bán 2 xe ô tô và việc nhiều lần bà Nhung đến ông Dũng vay tiền là 2 việc không có liên quan gì với nhau, điều này bà Nhung phải hiểu rõ hơn ai hết. Còn vay tiền không muốn trả, bán xe cầm tiền của người ta đã không đưa xe lại còn muốn vô hiệu giấy bán xe thì không có chuyện đó đâu.

Đã có dấu hiệu hình sự

Qua nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu thu thập được thì việc bà Nhung bán 2 chiếc xe ô tô cho ông Trần Tiến Dũng là sự thật, các chữ ký của bà Nhung và dấu Cty TNHH Đồng Phú Thành đều thể hiện trên giấy mua bán xe và giấy biên nhận cho mượn xe ô tô đã được Viện Khoa học Hình sự - Tổng Cục Cảnh sát khẳng định trong Kết luận giám định số 4670/C54-P5 ngày 06/11/2017. Bản thân bà Nhung không chỉ thừa nhận chữ ký, con dấu của Cty bà trong việc mua bán xe mà còn thể hiện rõ qua các cuộc trao đổi với ông Dũng.

Cụ thể, ngày 11/3/2017 ông Dũng gọi điện hỏi tiền 2 con xe giải quyết thế nào? Bà Nhung hứa đang thu xếp, lấy tiền từ xã Minh Tân về trả; Ngày 03/4/2017, ông Dũng lại yêu cầu bà Nhung phải có hướng giải quyết thì bà cho biết: "2 cái xe của em nói thật với anh, bây giờ Ngân hàng nó cầm không thể lấy được… Em chẳng lo tiền hàng tuần nay để trả, bác cứ yên tâm tiền của bác. Cái chỗ hơn 100 triệu kia là ông D. phải trả nốt cho bác. Cái chỗ còn lại bao nhiêu bác để em lấy về em trả". Như thế là quá rõ bà Nhung đã bán 2 chiếc xe ô tô, cầm 230 triệu đồng của ông Dũng.

Vậy vấn đề đặt ra ở đây là: Ttại sao bà Nhung biết rõ xe ô tô của Cty TNHH Đồng Phú Thành đang thế chấp Ngân hàng nhưng vẫn bán? Mặc dù, trước khi mua ông Dũng đã hỏi bà Nhung xe có cắm Ngân hàng để vay tiền không? Bà Nhung trả lời “xe em có cắm Ngân hàng nhưng hết hạn em lấy ra rồi” và bà Nhung đưa ra 01 bản gốc Giấy xác nhận của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng VPBank đến hết ngày 10/3/2015. Nhưng thực chất khi Nhóm PV làm việc với Ngân hàng VPBank được biết xe ô tô đã thế chấp Ngân hàng từ cuối năm 2014 đến cuối năm 2016.

Căn cứ vào Điều 139 - Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho thấy bà Nhung đã đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) là xe ô tô cắm ngân hàng đã hết hạn. Đây là thủ đoạn gian dối làm cho làm ông Dũng tin đó là thật và tự nguyện giao tiền cho bà Nhung. Theo luật, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 dấu hiệu là:

1) Người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc, nói dối, trái sự thật, nói không thành có, nói ít thành nhiều…

2) Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao tài sản hoặc tiền cho người phạm tội.

Thỏa mãn 2 dấu hiệu trên đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Về giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ hai triệu đồng trở lên đã phải chịu trách nhiệm hình sự, huống hồ đây lại là 230 triệu đồng. Và khi nói đến lừa đảo là người ta nghĩ ngay đến sự dối trá, nên đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối của người phạm tội. Mặt khác, việc bà Nhung bán xe ô tô cho ông Dũng, hai bên đã viết Giấy biên nhận, giấy bán, cho tặng xe, bà Nhung đã ký tên và đóng dấu Công ty TNHH Đồng Phú Thành.

Như vậy, bà Nhung còn vi phạm Điểm c, Khoản 1, Điều 48, Bộ luật Hình sự - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khoản 1 của điều Luật cũng quy định: Đối với những trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc rất lớn thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản vẫn bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.

Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng cách vay, mượn, thuê, hợp đồng với chủ tài sản để chủ tài sản giao tài sản cho người phạm tội. Sau khi nhận được tài sản người phạm tội mới thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản ấy. Sự gian dối chiếm đoạt tài sản xảy ra sau khi nhận được tài sản, nên lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là bội tín, phản bội lòng tin của chủ tài sản. Mà ở đây, sau khi bán xe bà Nhung mượn lại xe, rồi tiếp tục đến nhà ông Dũng vay tiền nhiều lần.

Từ những cơ sở pháp lý trên, chúng ta có thể thấy hành vi của bà Nhung không chỉ có dấu hiệu hình sự của tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà còn có dấu hiệu của tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đến nay, sau hơn 02 năm bà Nhung vẫn chiếm giữ tài sản (tiền và ô tô) cho dù bà có lấy lý do gì đi chăng nữa thì cũng không thoát khỏi trách nhiệm của mình. Vậy tại sao CQCSĐT Công an huyện Đông Hưng lại không khởi tố vụ án hình sự nêu trên? Vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập trong bài viết sau.

Nhóm PV Điều tra

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : lừa đảo thái bình chiếm giữ tài sản lạm dụng tín nhiệm

Tin Điều tra theo đơn thư tiếp theo

Tin Điều tra theo đơn thư mới nhất