Thứ Hai , 22:33, Ngày 15/10/2018

Gia đình và pháp luật

Ông Sáu Dân - Người con của Nam Bộ thành đồng

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt thường được mọi người gọi với cái tên trìu mến: Ông Sáu Dân - Người con của Nam Bộ thành đồng.

Cũng như các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở nước ta qua các thời kỳ, trước khi đảm nhận cương vị là người đứng đầu cơ quan hành pháp, ông đã trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau. Và dường như đã trở thành quy luật, trong mỗi thời kỳ cách mạng, bên cạnh những vận hội, Đảng ta, nhân dân ta lại phải đối đầu với biết bao thử thách cam go. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, ở cương vị công tác của mình, ông lại cùng tập thể Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao thác ghềnh.

Ông chính là nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt hay ông Sáu Dân như mọi người vẫn thường gọi một cách thân mật, trìu mến.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt với các phóng viên bên hành lang Quốc hội.

Đương thời, cánh báo chí chúng tôi đã nhiều lần được gặp ông, được tháp tùng ông trong những chuyến đi thực địa ở nơi này, nơi kia. Mỗi lần gần ông, được nghe ông kể lại những câu chuyện thời đất nước còn chiến tranh đến giai đoạn khôi phục, xây dựng và phát triển kinh tế trong thời bình. Dù ở đâu, trong bối cảnh nào, những điều ông nói đều thu hút người nghe đến lạ lùng.

Ông sinh ngày 23 tháng 11 năm 1922 ở một làng quê nghèo thuộc xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Là một người con trong một gia đình nghèo, tuổi thơ của ông là những trang đời làm thuê, ở đợ. Thấu hiểu nỗi đau mất nước, ngay từ thưở thiếu thời, ông đã tham gia cách mạng từ việc liên lạc, rải truyền đơn, công tác tuyên truyền cho cách mạng, tiếp đó là tham gia phong trào phản đế rồi được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam, ở tuổi 16. Sau ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (năm 1940), ông tham gia cướp chính quyền ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Sau đó để bảo toàn lực lượng Đảng điều động ông về hoạt động tại rừng U Minh để xây dựng căn cứ kháng chiến miền Tây Nam Bộ.

Năm 1950, từ khu rừng U Minh ngút ngàn ở mảnh đất cực Nam tổ quốc, ông được cử ra Việt Bắc để tham dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 diễn ra vào tháng 2 năm 1951. Đay là một chuyến đi đầy gian truân và hiểm nguy, nhưng đó lại là những kỷ niệm đáng nhớ trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông.

Trong buổi tiếp xúc với chúng tôi tại căn nhà riêng của ông dịp ấy, câu chuyện về cuộc hành trình của ông về chiến khu Việt Bắc năm ấy khiến chúng tôi vừa cảm kích, vừa khâm phục.

Ông kể: "Đoàn Nam Bộ của chúng tôi đi bộ từ Tây Nam Bộ sang Campuchia, qua Thái Lan, đến Bangkok, từ đó dự định đi qua Đông Bắc Thái Lan, xuyên qua Bắc Lào về Việt Bắc. Nhưng do mưa lũ, đường hỏng nên phải thay đổi đường đi. Chúng tôi phải hóa trang làm giấy tờ giả là người Hoa xuống tàu biển qua đảo Hải Nam, được lãnh đạo sứ quán của ta ở Quảng Châu bảo lãnh đưa về biên giới Cao Bằng, khi đó cũng là lúc kết thúc chiến dịch Biên giới. Không khí chiến khu Việt Bắc lúc bấy giờ rất nhộn nhịp với niềm vui chiến thắng và công tác chuẩn bị Đại hội Đảng...

Những đêm trăng thật tuyệt diệu giữa rừng khuya đại ngàn Việt Bắc. Sau dự Đại hội Đảng, anh em Nam Bộ được chia làm 3 nhóm: Nhóm đi về ngay Nam Bộ, nhóm sang Trung Quốc học, tôi thuộc nhóm ở lại Việt Bắc học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc khóa 3, nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng, công tác thuế nông nghiệp và công tác dân công cho chiến dịch, đi thực tế tại xã Nhã Lộng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, được dự nhiều cuộc họp của tỉnh, của khu do Trung ương tổ chức. Tôi có may mắn được tham gia huy động dân công cho chiến dịch Hòa Bình. Xong chiến dịch, đầu năm 1953, tôi trở về Nam Bộ.

Trước khi lên đường, đoàn Nam Bộ được Bác Hồ và các đồng chí Thường vụ Trung ương tiễn bằng một bữa cơm. Trung ương gửi đoàn đem về cho Nam Bộ 10kg vàng, mỗi người trong đoàn đeo một ruột tượng đựng vàng, đi đâu khi ăn cũng như khi ngủ đều phải đeo bên mình như thế suốt cả cuộc hành trình. Về cùng đoàn Nam Bộ còn có 3 anh được Trung ương chi viện tăng cường gồm các anh: Anh Dương phụ trách về nông hội Trung ương. Lần này, chúng tôi được đi bộ dọc Trường Sơn.

Những địa danh như U Bò, Ba Rền - Quảng Bình, dốc bút ở Quảng Nam, chiến khu Ba Lòng của Bình Trị Thiên khói lửa, chiến khu Khánh Hòa, Bác Ái - Ninh Thuận, chiến khu cực Nam - Bình Thuận và nhiều địa danh khác trên Trường Sơn - còn in trong tâm trí tôi và những đồng đội. Đó là những bữa cơm miền Đông Nam Bộ nghèo khó mà đồng chí Phạm Hùng có lúc cho là xa xỉ bởi gạo không độn ăn với ruốc vẫn còn hơi ấm trong bụng. Gần một năm đoàn mới tới Nam Bộ, nghĩa là sau ăn Tết ở Việt Bắc thì tới Tết năm sau ăn Tết tại Nam Bộ".

Từ năm 1954 - 1960, theo sự phân công của Đảng, ông Sáu Dân được điều động về làm Bí thư khu ủy Sài Gòn - Gia Định. Đây là thời kỳ mà Mỹ - Diệm lê máy chém đi đàn áp, giết hại tàn bạo, man rợ đối với đồng bào, cán bộ, đảng viên. Khu ủy Sài Gòn - Gia Định từ chỗ có hàng ngàn Đảng viên chỉ còn hơn 200 người. Nhiều cơ sở Đảng bị tê liệt, ngừng hoạt động. Nhưng với sự chỉ đạo kiên quyết bám đất, bám dân của khu ủy, các hoạt động của các cơ sở Đảng từng bước được khôi phục và trở thành lực lượng nòng cốt đưa phòng trào cách mạng ở thành phố ngày một phát triển.

Địa đạo Củ Chi, nơi Khu ủy xây dựng làm căn cứ đã trở thành đất thép đã chỉ đạo các trận đánh lớn vào nội đô Sài Gòn - Gia Định khiến quân thù phải khiếp sợ. Nổi bật là cuộc tấn công và nổi dậy của quân và dân Sài Gòn - Gia Định vào những ngày đầu xuân Mậu Thân (1968).

Năm 1970, tình hình quân khu 9 gặp nhiều khó khăn, trung ương Cục miền Nam đã điều động ông về lãnh đạo quân khu 9. Khi Hiệp định Pari được ký kết, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn công khai tuyên bố không thi hành Hiệp định. Chúng dồn quân đánh chiếm vùng giải phóng ở nhiều nơi. Lúc này với cương vị là Bí thư Khu ủy, ông đã chỉ đạo chủ động tấn công địch lấn chiếm, giành thế chủ động trên chiến trường nhằm góp phần tạo hậu thuẫn cho cuộc tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Sài Gòn và miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Sài Gòn cũng như nhiều tỉnh thành ở dải đất miền Nam đứng trước tình huống rất phức tạp cần giải quyết.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt và công nhân trên công trường xây dựng trạm biến thế 500Kv Pleiku ngày 3/11/1993. Ảnh: Nguyễn Công Thành.

Hơn 1 triệu ngụy quân, ngụy quyền vừa hạ vũ khí, theo đó là bộ máy chiến tranh khổng lồ tan dã, lòng dân vẫn còn ám ảnh cảnh "tắm máu trả thù" mà bộ máy tuyên truyền của địch dựng lên reo rắc vào người dân. Nhưng rồi cùng với các đồng chí lãnh đạo thành ủy, ông đã sớm nắm bắt tình hình, thường xuyên đi sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của người dân và doanh nghiệp, các tầng lớp tri thức... nhằm tìm lối thoát để ổn định đời sống kinh tế - xã hội của thành phố.

Ông nói: "Hồi đó vận động nhân dân thành phố lao động với quy mô lớn là điều rất mới mẻ. Ngày ra quân hừng hực khí thế tại sân vận động và tiếp đó là cuộc diễu hành trong thành phố của lực lượng thanh niên xung phong đã làm người dân thành phố từ ngạc nhiên tới cảm phục, bị lôi cuốn, tự nguyện tham gia với tất cả sự hồ hởi, tình cảm trong sáng và một niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống.

Hình ảnh Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình cùng đắp đất với các nữ tu sĩ, linh mục, ni nư, đại đức, sinh viên, thanh niên tại nông trường Phú Mỹ, hình ảnh các nghệ sỹ tên tuổi như Thanh Sang, Phượng Liên, Ngọc Giàu và đặc biệt là Thanh Nga vừa đào kênh, vừa ca hát... còn sống mãi trong ký ức của nhân dân thành phố. Đến khu du lịch Đầm Sen ngày nay, ít ai có thể hình dung ngày ấy, hàng ngàn thanh niên nam nữ đã chỉ bằng đôi tay, cái cuốc, cái xẻng nạo sét sình lầy để làm nên một công viên văn hóa"...

Nhìn lại trong lúc khó khăn phải ăn bo bo, thiếu thốn đủ thứ mà chúng ta làm được biết bao công trình như thế. Nhiều công trình nếu làm theo kiểu bây giờ thì phải tốn ngân sách Nhà nước hàng trăm tỷ đồng, mà chưa chắc đã được. Thế mới biết sức mạnh quần chúng nhân dân là vô cùng to lớn là ở đó muốn làm một công trình gì lớn, trước hết phải xem có phù hợp với nguyện vọng của nhân dân không, có phục vụ lợi ích của nhân dân không, chứ đừng chỉ lo đếm tiền trong túi. Nếu được nhân dân ủng hô, nếu huy động được nhân dân tham gia thì chúng ta sẽ làm được những việc mà nếu chỉ tính toán kinh tế đơn thuần sẽ chẳng bao giờ làm nổi.

Nghĩ về anh, giáo sư Nguyễn Xuân Oánh viết: "Cho đến năm 1980, người dân thành phố đã quen với những từ đặc biệt của anh như "tháo gỡ", "cởi trói" bởi vì người Bí thư Thành ủy vào lúc đó đã áp dụng linh hoạt nhất những nghị quyết liên quan đến quyền chủ động kinh doanh của các đơn vị sản xuất mà còn mạnh dạn chịu trách nhiệm trước những quyết định thử nghiệm cải cách cơ chế thị trường".

Một kỉ niệm nữa của chúng tôi về ông Sáu Dân, khi ông trong cương vị là người đứng đầu cơ quan hành pháp ở nước ta. Dịp ấy chiều cuối tuần mấy anh em chúng tôi thường tụ tập tại Câu lạc bộ Ba Đình và cũng là dịp được gặp ông Sáu chơi quần vợt tại đây. Vẫn tác phong nhanh nhẹn và gần gũi, nâng cốc bia uống vài ngụm, ông chia sẻ: "Tuổi tôi mà không tập luyện hàng ngày thì yếu ngay, lấy đâu sức khỏe để phục vụ đất nước và nhân dân".

Nghe ông nói mỗi người chúng tôi thấy hổ thẹn vì sự lười nhác trong việc luyện tập. Rồi một lần nữa tại diễn đàn Quốc hội khi chúng tôi được phép đến tác nghiệp và dự thính trong các phiên Quốc hội thảo luận về các dự án Luật. Trong giờ giải lao, nhiều phóng viên của các báo đài đến vây quanh ông để phỏng vấn về chủ trương, xây dựng tuyến đường Hồ Chí Minh và đường dây 500Kv.

Trước những câu hỏi của phóng viên, ông chậm rãi trả lời rất rành rọt: "Mới đầu chúng ta chỉ định nâng cấp đường quốc lộ 1A nên có thể giải quyết lưu thông Bắc Nam, nhưng qua thực tế con đường quốc lộ 1A được nâng cấp cũng phải cuối năm 1998 hoặc đến năm 1999 mới xây xong, đến lúc đó con đường này cũng quá tải mất rồi, nhược điểm không thuận lợi của quốc lộ 1A là năm nào cũng bị cách 1-2 đoạn suy yếu vì thường xuyên bị ngập, không thể đáp ứng được nhu cầu giao thông thời kỳ công nghiệp hóa xây dựng đất nước trong hội nhập với thế giới bên ngoài.

Con đường này nếu làm sớm nó sẽ giảm quá tải cho cho quốc lộ 1A và đảm bảo lưu thông Bắc Nam thông suốt, phát triển được kinh tế vùng núi dọc hai bên đường, nhất là vùng Tây Nguyên có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, đến điện còn chưa về tới nơi, cuộc sống còn đói nghèo. Nhưng trong hai cuộc chống Pháp và chống Mỹ, đồng bào nơi đây đã ủng hộ cách mạng, với tấm lòng thủy chung đi theo Bác Hồ và cách mạng cho đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975. Tại sao có lợi cho nhân dân chúng ta lại không làm".

Hết giờ giải lao, Thủ tường Võ Văn Kiệt còn nán lại thêm vài phút để bắt tay các nhà báo, phóng viên. Ông cười rất tươi đôi mắt sáng với niềm tin vào tương lai của đất nước.

LS. Vũ Tuyến Hùng

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tags : Võ Văn Kiệt nam bộ

Tin Nhân vật - Sự kiện tiếp theo

Tin Nhân vật - Sự kiện mới nhất