Thứ Năm , 03:50, Ngày 22/11/2018

Gia đình và pháp luật

Những vấn đề bất cập cần sửa đổi của Luật Giáo dục Đại học

​Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đang được trình thảo luận.

Xung quanh vấn đề này, phóng viên có cuộc phỏng vấn Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, thành viên Tổ tư vấn đổi mới của Bộ Y tế Nguyễn Minh Lợi.

Ông Nguyễn Minh Lợi - Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, thành viên Tổ tư vấn đổi mới của Bộ Y tế.

PV: Thưa ông, ông có thể cho biết quan điểm của ông về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học được trình Quốc hội tại kỳ họp này?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Theo tinh thần cần điều chỉnh các quy định về đào tạo nhân lực y tế trong tổng thể chung nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố về tính "đặc biệt" như nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định mà mới đây nhất là Nghị quyết số 20 của BCH TW 6 khóa XII, việc sửa đổi này có ý nghĩa rất lớn. Đây là cơ hội lịch sử vì nếu không chúng ta sẽ làm chậm sự phát triển và hội nhập quốc tế thêm ít nhất là 10 năm nữa.

Tuy nhiên, qua các cuộc thảo luận và nghiên cứu dự thảo, tôi nhận thấy còn một số vấn đề chưa thể hiện được tính nhất quán, đồng bộ trong dự thảo, trong đó có nội dung rất quan trọng của Luật là về trình độ và văn bằng giáo dục đại học.

Như chúng ta đã biết, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, để trở thành người bác sĩ hành nghề chuyên môn, sau khi hoàn thành chương trình đào tạo 6 năm ở trường đại học, người học còn phải đào tạo chuyên khoa, chuyên sâu và thường xuyên đào tạo cập nhật, phát triển nghề nghiệp. Nhưng trong thời gian 6 năm học tập để trở thành bác sĩ, không giống như các chương trình cử nhân khác, chương trình đào tạo bác sĩ bao gồm các hợp phần, nội dung thực hành và các giai đoạn trải nghiệm công việc trực tiếp tại các cơ sở y tế dựa trên các nền tảng lý thuyết.

Y học là nhân học nên nội dung chương trình phức tạp hơn nhiều, thời gian dài hơn so với các chương trình cử nhân 4 năm, và thường có định hướng chuyên nghiệp và chuyên môn sâu hơn so với các chương trình cử nhân của các ngành khác. Chương trình đào tạo và năng lực của chuyên khoa và chuyên khoa sâu (ở Việt Nam hiện nay là đào tạo chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 và Nội trú) cũng khác hẳn chương trình và năng lực đầu ra của thạc sĩ, tiến sĩ.

Theo hệ thống trình độ đào tạo và văn bằng của nhiều nước trên thế giới, thường theo hai định hướng đào tạo là hướng hàn lâm (academic) và hướng chuyên nghiệp (professional). Trong đó, đào tạo bác sĩ đi theo hướng chuyên nghiệp nhưng trình độ đào tạo và văn bằng giáo dục đại học (bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa sâu gồm chuyên khoa 1, chuyên khoa 2) - đối với những đối tượng này không thể hòa cùng với trình độ và văn bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Tuy nhiên, rất tiếc là điều này chưa được thể hiện trong Dự thảo Luật - chính vì vậy cần thiết phải quy định về loại hình trình độ và văn bằng này trong dự thảo Luật.

PV: Vậy đây có phải là vấn đề mới trong hệ thống pháp luật của Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Tôi xin khẳng định đây không phải là vấn đề mới, mà thực chất Điều 39 Luật Giáo dục năm 1998 của Việt Nam đã quy định và trong Điều 11 Nghị định 43/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục 1998 đã hướng dẫn cụ thể; điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng rất tiếc là ở đây, chỉ đề cập về văn bằng (bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư) mà bỏ mất trình độ và văn bằng chuyên sâu (trong y tế có chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 và nội trú). Đặc biệt, trong dự thảo lần này không thấy nói rõ về nội dung này. Vậy, sẽ quy định ở đâu nếu không quy định ở Luật này?

Tại tại Khoản 1, Điều 6, dự thảo ghi: "Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học quy định tại Luật này bao gồm trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ" còn tại Điều 73, giao cho Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền: "Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, thời gian đào tạo, chương trình đào tạo, điều kiện tổ chức đào tạo, quản lý đào tạo, trình độ tương đương, văn bằng, chứng chỉ phù hợp với lĩnh vực sức khoẻ và một số lĩnh vực chuyên sâu đặc thù”. Ban soạn thảo quy định các trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ trong Luật nhưng lại giao Chính phủ quy định trình độ tương đương.

Như vậy, rõ ràng là Ban soạn thảo đã nhận thấy còn có những trình độ thuộc giáo dục đại học mà không phải là cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Câu hỏi đặt ra là các chương trình đào tạo bác sĩ, chuyên khoa, chuyên khoa sâu sau đào tạo bác sĩ thì là tương đương với chương trình đào tạo của trình độ nào? Quy định ở đâu? Các chương trình đào tạo này không thể tương đương với chương trình cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ vì đây là theo định hướng đào tạo chuyên sâu nên phải quy định trình độ cụ thể như các nước đã làm.

Nếu như không quy định về trình độ cụ thể cho đối tượng đào tạo nhân lực này trong Luật thì giao Chính phủ quy định về xác định chỉ tiêu, thời gian đào tạo…, như ở Điều 73, chỉ làm rối hệ thống thêm mà không giải quyết được việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành y tế (ví dụ trước đây Khoản 4, Điều 38 Luật Giáo dục đại học 2012 đã giao cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được!).

PV: Trước đây, Bộ Y tế đã từng đề cập kiến nghị vấn đề này?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Bộ Y tế đã có ý kiến nhiều lần, và theo tôi biết là cũng đã có nhiều ý kiến trong đó ý kiến cuả Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, đồng thời đã được thể hiện trong ISCED-2011 do UNESCO ban hành (có thể xem Master’s or equivalent level, trang 55; Doctoral or equivalent level, trang 59).

PV: Vậy, theo ông, nên quy định cụ thể vấn đề này như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Tôi đề nghị nếu không xác định là "tương đương" như ISCED 2011 thì ghi rõ trong Điều 6 là "Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học quy định tại Luật này bao gồm trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, trình độ chuyên gia", Điều 38 là "Văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm: Bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, bằng chuyên gia" và quy định tại Điều 73 là "...Trình độ, văn bằng, chứng chỉ đào tạo chuyên gia phù hợp...". Nội dung này, theo tôi biết là Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã có văn bản số 93/HH-VP ngày 12/10/2018 kiến nghị với Quốc hội.

Cụ thể, tôi đề nghị sửa đổi Khoản 1, Điều 6: “1. Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học quy định tại luật này bao gồm trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, trình độ chuyên gia. Chính phủ quy định trình độ chuyên gia đối với một số ngành đào tạo theo định hướng chuyên sâu đặc thù”.

Khoản 1, Điều 38: “1. Văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm: bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, bằng chuyên gia. Chính phủ quy định văn bằng chuyên gia đối với một số ngành đào tạo theo định hướng nghề nghiệp chuyên sâu”.

Điều 73 bổ sung từ "chuẩn" vào trước cụm từ "chương trình đào tạo" và xác định rõ vai trò của Chính phủ, đề nghị sửa lại là: "1/Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật. 2/ Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, thời gian đào tạo, chuẩn chương trình đào tạo, điều kiện tổ chức đào tạo, quản lý đào tạo, trình độ tương đương, văn bằng, chứng chỉ phù hợp với lĩnh vực sức khoẻ và một số lĩnh vực chuyên sâu đặc thù”.

Ngoài ra, theo tôi, còn một số vấn đề khác cần được sửa đổi về phân loại cơ sở giáo dục đại học và về quản lý nhà nước, quản trị và tự chủ giáo dục đại học…

Đào tạo nhân lực y tế là vấn đề liên ngành quy định về đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì theo Luật Giáo dục đại học; quy định về hoạt động chuyên môn y tế do Bộ Y tế chủ trì theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh và các luật chuyên ngành; quy định về tài chính (chi phí cho đào tạo, thù lao cho giảng viên và người học tại bệnh viện,...) do Bộ Tài chính chủ trì theo Luật về giá, Luật về phí,...; quy định về vị trí việc làm của giảng viên và người học trong cơ sở y tế khi thực hiện dạy-học, chế độ đãi ngộ do Bộ Nội vụ chủ trì, ...

Chính vì vậy, cần được thể chế hóa một cách rõ ràng, hướng tới mục tiêu cuối cùng là người dân được hưởng nền y tế có đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản, có chất lượng, xây dựng pháp luật là để phục vụ đời sống kinh tế-xã hội chứ không phải phục vụ cho cá nhân nào, bộ ngành nào.

Một lần nữa tôi cho rằng: Đây là thời khắc lịch sử, nếu không có lẽ ít nhất 10 năm nữa mới có thể xem xét lại, và như vậy hệ thống y tế có nguy cơ sẽ có những thế hệ đào tạo không đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và chắc chắn là chưa hội nhập - và không phù hợp với quan điểm đổi mới và hội nhập như Nghị quyết số 29 (khóa XI), Nghị quyết số 20 (khóa XII) của Đảng đã đề ra, cũng như tinh thần hội nhập mà kỳ họp này Quốc hội vừa xem xét là thông qua hiệp định Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Trần Ngọc Kha (Thực hiện)

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : bất cập Luật giáo dục sửa đổi

Tin Giáo dục tiếp theo

Tin Giáo dục mới nhất