Chủ nhật, 10:32, Ngày 15/12/2019

Gia đình và pháp luật

Nhà báo Lê Long: Người thầy dẫn đắt tôi vào nghề

Tôi có nghe về anh rất nhiều nhưng chưa hề một lần gặp mặt, khi gặp rồi tôi mới biết anh là Lê Thanh Tâm, mọi người thường gọi là anh “Ba Lê Long”.

Sau này gặp anh hàng ngày, càng tiếp xúc tôi càng tôn kính anh hơn. Tôi cảm nhận ở anh một nhà quản lý, một người thầy rất mực hiền từ, nhân hậu và dễ gần gũi. Anh luôn đem lòng yêu thương, cảm thông và chia sẻ với những phóng viên chập chững bước vào nghề. Trong thời gian tôi ở báo Người Lao động (NLĐ), anh luôn dạy dỗ và hướng nghiệp cho những phóng viên mới. Anh động viên phải cố gắng thực hiện tốt tư cách của một phóng viên và có ích cho xã hội.

Anh Ba Long ở chiến khu.

Gian nan nghề báo

Nhưng giờ đây, anh không còn nữa, anh đã vĩnh viễn ra đi, để lại thương tiếc cho người thân, đồng nghiệp, học trò mà anh đã từng dìu dắt. Nhớ lại, khi anh giao cho tôi phụ trách địa bàn quận Gò Vấp, lúc đó tình hình ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, vì ở đây có nhiều công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất giấy, dệt, nhuộm…

Thật khó khăn cho tôi vì mới vào nghề lại đi tác nghiệp một mình. Khi viết bài xong, khó khăn là phần đặt tít (tựa bài) qua hỏi anh, anh nói đặt sao cho hay để bạn đọc dễ hiểu, anh chỉ cho tôi cách đặt tít, thế là nghe anh tôi đặt tít bài: “Gò Vấp: Môi trường ô nhiễm - Nhà nước làm lơ”, sau đó là bài “Giải tỏa nhà hay giải tỏa mộ”, đến bài “Những người đi tìm đất sống” (họ là những lao động ở các tỉnh, thành trong cả nước nhập cư vào TP.HCM, thuê nhà trọ ở Gò Vấp để mưu sinh, như: Mua ve chai, đạp xích lô, bán hủ tíu gõ, bánh chưng, bánh giò… Từ đó, chúng tôi thường gọi anh là chuyên gia đặt tít.

Do hiểu tâm lý của những phóng viên "mới ra lò" như tôi nên anh thường xuyên gần gũi, động viên, nhắc nhở. Làm báo có tài mà không có tâm cũng không được. Có tâm mà thiếu tài cũng không xong. Viết báo cần nhất là phát hiện và xử lý tốt thông tin. Tuy nhiên, nghề báo mà không có tâm thì nguy hại trăm bề, chí ít là ở chỗ “bút sa…  thiên hạ chết”, là nén bạc có thể đâm toạc tờ giấy.

Cuối năm 1995, anh rời cư xá Hồ Biểu Chánh, quận Phú Nhuận, về ở Phường 15, quận Gò Vấp, tôi cũng lại gặp may, vì chỗ anh ở gần nhà tôi. Những lúc viết bài gặp khó khăn cũng như việc tác nghiệp, tôi lại được anh chỉ bảo tỉ mỉ, từ đó, tôi càng thuận lợi hơn. Có nhiều lần các quận, huyện, hoặc công ty tổ chức sự kiện, họp báo, anh đều cho tôi đi để vừa học hỏi vừa tác nghiệp.

Cuối năm 1995, miền Tây đang mùa lũ lụt, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Long, tổ chức hội nghị, anh rủ tôi cùng đi vừa dự hội nghị vừa kết hợp viết về bão lũ miền Tây. Đây là một chuyến đi bão táp, hai thầy trò rong ruổi trên chiếc gắn máy, trời mưa tầm tã, đến Cai Lậy, nước ngập hơn nửa bánh xe, chúng tôi lại tấp vào quán nước bên đường, chờ nước rút mới đi tiếp. Cứ như vậy cho đến gần 10 giờ đêm, chúng tôi mới đến Hội VHNT tỉnh Vĩnh Long, cả hai anh em quần áo đều ướt hết. Tuy chuyến đi có nhiều khó khăn, vất vả vì mưa bão nhưng anh vẫn vui cười, không hề nản chí.

Anh nói: “Đời của người làm báo là vậy đó”, mưa nắng không ngại, có xông pha thì mới có những bài viết hay để kịp thời thông tin cho bạn đọc. Làm báo thời bình quá đơn giản không như thời chiến. Thời chiến bom nổ trên đầu vẫn phải tác nghiệp. Nghe những lời anh nói và được các đồng nghiệp đi trước cho biết. Trong kháng chiến anh là một chiến sỹ kiên cường, một nhà báo đa năng, gan dạ, sẵn sàng hi sinh vì đồng đội thì những cái mưa, nắng của thời bình có là gì đâu. Sau chuyến đi này, tôi càng khâm phục anh hơn với dáng người cao ráo, mảnh khảnh, vậy mà trông anh vẫn mạnh mẽ, cứng cáp.

Ở Gò Vấp mấy năm, anh lại dời “đô” đến xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, TP.Hồ Chí Minh - đây là lần chuyển nhà lần thứ hai, đồ dùng của anh chẳng có gì nhiều, ngoài hai chiếc rương và chiếc xe 81 cà tàng, thêm một thùng đạn bằng sắt, như lời anh nói trong này có những món đồ rất quí mà anh trân trọng gìn giữ mấy chục năm. Đến ngôi nhà thân thương của anh, nói cho đúng hơn là cái “chòi”, bốn chung quanh là vách lá nhưng được cái là thoáng mát, không ô nhiễm môi trường như ở thành phố. Nghỉ chừng nửa tiếng, anh mở những chiếc rương sắp xếp từng chỗ trong nhà, khi đến cái thùng đạn đựng đồ, anh mở ra nâng niu từng chiếc và nói: Đây là Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến sĩ Quyết thắng, Huân chương vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Huân chương vì sự nghiệp báo chí…

Suốt mấy chục năm chiến tranh, lúc còn ở trong chiến khu - Đài phát thanh Giải phóng, đến khi hòa bình anh vẫn làm báo. Những cơ quan báo chí anh từng làm công tác quản lý như: Báo Người Lao động, Tạp chí Công thương, Thời báo Ngân hàng, Bản tin Luật sư… Ở bất cứ cương vị nào, anh luôn được lãnh đạo và anh chị em phóng viên yêu mến, tôn kính. Tôn kính anh không chỉ vì anh là một người thầy, một người quản lý “giỏi nghề” mà tôn kính anh vì cái tính phóng khoáng và nghĩa khí của anh, hy sinh vì bản thân để giúp đỡ người khác.

Anh Ba Long trong lần gặp nguyên Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

Anh thường nhắc nhở chúng tôi và nhấn mạnh: Nghề báo đưa ta đến bất cứ nơi đâu. Nghề báo đem lại cho ta những chuyến đi có nhiều vui buồn, thành công cũng như chưa thành công và nghề báo cũng mang đến cho ta nhiều bạn bè, tình cảm sâu sắc. Khi dời “đô” về Bình Chánh, tôi và anh ít gặp nhau. Thời gian trôi qua khoảng hai năm, lúc này anh đã sắm điện thoại di động, anh điện cho tôi và nói hiện đang làm Thư ký tòa soạn cho Bản tin Luật sư của Đoàn luật sư TP.HCM. “Mày về đây với tao cho có thầy, có trò. Tao giao cho mày mảng phóng sự và viết về các làng nghề truyền thống”. Tôi “Oke” liền và hai thầy trò cùng đồng hành với nhau cho đến tháng 8/ 2007.

Buổi chiều cuối tuần, tôi đến thăm anh ở Bình Chánh, lúc này anh ốm và xanh quá, anh cứ nhìn tôi, tôi nói: Đại ca còn nhậu được không? Vừa cười, anh nói: “Chơi thì chơi, sợ gì”, lúc đó có mấy đồng nghiệp của tôi và cũng là học trò của anh... thấy anh lại ho và khó thở, một người đỡ anh dậy và nói nên đưa anh đi bệnh viện. Càng lúc thấy anh càng mệt hơn, tôi liền điện thoại cho luật sư Hà Hải, khoảng 1 tiếng sau anh Hải đi xe hơi xuống và chuyển anh đến bệnh viện Thống Nhất.

Sáng hôm sau, tôi lên bệnh viện thăm anh thì được tin anh đã mất. Tôi không cầm được nước mắt vì từ nay tôi không còn rong ruổi, tác nghiệp cùng anh nữa, không chia sẻ cùng anh những lúc vui, buồn của người làm báo, không còn được anh chỉ dạy khi gặp phải một đề tài khó và những lần cùng anh ngồi nhâm nhi với những bịch đậu phộng luộc, những miếng đậu hủ trắng ở lề đường Mạc Thị Bưởi...

Nghĩa nặng tình sâu

Ông Huỳnh Ngọc Đáng- Nguyên Chánh Văn phòng Tỉnh ủy Sông Bé cũ, nguyên Tổng Biên tập Báo Bình Dương, cho biết: Cách nay hơn 20 năm, tôi tiếp một người khách lạ. Lúc này tỉnh Sông Bé chưa tách, anh Sáu Phong (anh Nguyễn Minh Triết) đang làm Bí thư Tỉnh ủy, còn tôi thì công tác ở Văn phòng, người khách này xấp xỉ 50, dáng dong đỏng cao, tóc đã hoa râm, trên môi có hàm râu ra chừng có phần lãng tử. Đặc biệt, anh ta có đôi mắt sáng mà hiền. Trong đôi mắt đó, tôi đọc được những khát khao và kỳ vọng nhưng cũng có nhiều trăn trở, băn khoăn về cuộc sống. Tôi vừa bắt tay chào hỏi thì có điện của anh Sáu Phong gọi, dặn dò mấy chuyện. Qua đó tôi biết người khách lạ đó là anh Ba Long- Thư ký tòa soạn Báo Người Lao động TP. Hồ Chí Minh.

Như vậy, người này là khách của anh Sáu Phong. Người khách không nói gì về mình. Tôi cũng chẳng nói gì về tôi. Họp Ban Thường vụ Tỉnh ủy xong, anh Sáu Phong đi xuống chỗ tôi, anh mừng rỡ bắt tay trò chuyện thăm hỏi với anh Ba Long. Trông hai người có vẻ rất thân mật, gần gủi. Anh Sáu Phong giục tôi không bày thức ăn ở nhà khách nữa mà cho quét dọn bày ra sàn nhà của hàng hiên trống nhưng khá cao ráo trong vườn cây, sân cỏ của Văn phòng. Thế là một bữa rượu của tình cảm bạn bè cũ lâu ngày gặp nhau đã diễn ra sinh động. Nó sinh động đến nỗi sau hơn 20 năm rồi tôi vẫn nhớ. Đích thân anh Sáu Phong, rót rượu cho bạn và cho tôi. Mấy người cứ ngồi xếp bằng dưới sàn như thế hàn huyên và uống rượu. Bữa rượu hoang sơ nhưng thật đậm đà nghĩa tình.

Thì ra, người khách lạ mà tôi tiếp từ chiều đến giờ, trước đây đã cùng anh Sáu Phong đi một chuyến giao liên vào chiến khu thoát ly kháng chiến. Nghe nói chuyến giao liên đó có tất cả 5 đồng chí. Đó là những cán bộ hoạt động nội thành đã bị lộ tông tích sau Tết Mậu Thân. Đối với mỗi người trong họ, đó là chuyến đi lịch sử đánh dấu một quãng đời hoạt động hoàn toàn khác trước.

Do vậy, trong suốt hành trình của chuyến đi, năm người đã dần thân quen. Sau đó, thì họ chia tay nhau mỗi người một hướng công tác và gần như không có dịp gặp lại nhau, mãi cho đến năm 1975, từ chiến khu về tiếp quản Sài Gòn, năm người của chuyến giao liên đó chỉ còn lại hai. Ba người trong họ đã nằm lại với núi rừng sau những trận đánh sanh tử và đây là một trong những lần gặp gỡ hiếm hoi của anh Sáu Phong và anh Ba Long còn may mắn sống sót đó. Họ mừng mừng, tủi tủi, nhắc lại nhiều kỷ niệm, ôn gợi nhiều câu chuyện quá khứ gian khổ, anh hùng có, bị thương có. Giờ hai người đó đang ngồi đây trước mặt tôi, một là anh Sáu Phong- Bí thư Tỉnh ủy, Ủy viên Trung ương Đảng, người còn lại chính là anh Ba Long - một nhà báo lãng tử.

Trong suốt bữa rượu anh Ba Long luôn hút thuốc. Còn điều này thì tôi biết chắc rằng dù quen biết thân tình với anh Sáu Phong sâu sắc như vậy nhưng chưa lần nào anh Ba Long nhờ vả anh Sáu Phong. Có lẽ đó là tính cách của anh, không thích ỷ lại hay nương tựa nhờ cậy, càng không bao giờ trong vui chơi bạn bè, anh nói về mình, nhất là về mối quan hệ thân quen với anh Sáu Phong.

Tôi nhận ra những đức tính đó và vì vậy tôi càng quí anh. Quan hệ hai chúng tôi càng thân thiết. Và tôi cảm nhận điều đó qua ánh mắt của anh Ba Long: khao khát, hiền lành nhưng buồn và như chực khóc. Khóc vì hạnh phúc hay khóc vì đau khổ, tiếc nuối, ân hận…Tôi không rõ nhưng đó là cái khóc chân thành, không hề giả tạo, vì vậy nên nó xứng đáng được tôn trọng.

Chẳng bao lâu thì tôi nghe tin anh Ba Long qua đời. Tôi đến viếng, đốt mấy nén nhang và nhìn lại gương mặt anh, chăm chú quan sát lần cuối ánh mắt của anh. Bây giờ thì tôi ngạc nhiên rằng ánh mắt đó có sự thay đổi: không còn sự khoát khao, chờ đợi nữa mà như mãn nguyện, vẫn hiền lành nhưng không còn như chực khóc. Có lẽ ngần ấy năm sống ở nơi trần thế, anh khao khát như vậy là đủ rồi. Sau này mỗi lần gặp anh Sáu Phong, anh đều hỏi thăm về các con của anh Ba Long. Tôi biết gì nói nấy: Nghe đâu các cháu sống tốt.                                                   

Trúc Mai

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tags : nghề báo nhà báo Lê Long

Tin Nhân vật - Sự kiện tiếp theo

Tin Nhân vật - Sự kiện mới nhất