Thứ Bảy , 00:19, Ngày 23/06/2018

Gia đình và pháp luật

Nghĩa vụ quân sự 2018: Trốn nghĩa vụ quân sự bị xử lý thế nào?

Tùy theo tính chất, mức độ, người trốn nghĩa vụ quân sự có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 quy định trừ người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh tâm thần hoặc bệnh mãn tính theo quy định của pháp luật được miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Công dân nam đủ 17 tuổi trở lên và công dân nữ có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của quân đội nhân dân từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc đối tượng đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Một đợt giao quân diễn ra đầu năm 2017. Ảnh: Thanh Niên

Do đó, việc không đăng ký nghĩa vụ quân sự khi đã có lệnh gọi; không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng… được coi là hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định tại Điều 10, Luật nghĩa vụ quân sự.

Tùy theo tính chất, mức độ, người vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo Nghị định số 120/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu, người vi phạm có thể bị phạt tiền tới 2,5 triệu đồng, buộc phải thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Nếu người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì sẽ bị xử lý hình sự về tội Trốn tránh nghĩa vụ quân sự.

Cụ thể Điều 332 - Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự như sau:

1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Một người chỉ bị coi là phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự khi người đó có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi vi phạm quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện.

Những hành vi vi phạm này được thể hiện dưới dạng không hành động. Tức là đi khám sơ tuyển nghĩa vụ quân sự, chấp hành lệnh gọi tập trung... là nghĩa vụ của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 nhưng công dân đó đã không thực hiện.

Tuy nhiên tội này chỉ cấu thành khi người phạm tội có thêm yếu tố nhân thân đó là: đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự mà chưa được xóa án tích.

Theo Đời sống & Pháp lý

Tags : nghĩa vụ quân sự

Tin Tư vấn Luật tiếp theo

Tin Tư vấn Luật mới nhất