Thứ Hai , 01:57, Ngày 16/09/2019

Gia đình và pháp luật

Nam Đàn - Nghệ An: Có hay không sự công tâm của Tòa án?

Từ những chứng lý và sự chứng kiến của phóng viên, nhà báo tác nghiệp tại phiên tòa, chúng tôi đề nghị Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An cần xem xét vụ án một cách khách quan.

Chiều ngày 15/4/2016, tại Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa Bên Nguyên đơn là Nguyễn Tộc Chi thứ mà đại diện là ông Nguyễn Văn Bảo (thường trú tại quận Đống Đa, Hà Nội) và ông Nguyễn Mạnh Tuyên (trú tại thị trấn Nam Đàn, Nghệ An) và Bên Bị đơn là Nguyễn Văn Quang trú tại xóm 7, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nội dung bên Nguyên đơn khởi kiện và yêu cầu Tòa giải quyết bao gồm: Yêu cầu công nhận sở hữu chung của họ tộc ngôi nhà thờ bằng gỗ lợp ngói 3 gian 2 hồi trên thửa đất số 376 tờ bản đồ số 5, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD) đất số D 0842384. Phân chia quyền sử dụng cho gia tộc phần đất gắn liền với nhà thờ họ Nguyễn và đất phần sân, đất hai đầu hồi nhà thờ, đất đường đi phía trước nối đường đi của xóm.

Tại phiên tòa, Bị đơn vắng mặt và có Luật sư được ủy quyền bảo vệ Bị đơn (LSBVBĐ) nên phiên tòa vẫn được Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành. Về việc tư cách và quyền khởi kiện của ông Nguyễn Văn Bảo và ông Nguyễn Mạnh Tuyên, LSBVBD đưa ra căn cứ theo quy định tại Điều 220, Điều 217 Bộ luật dân sự, thì tài sản tranh chấp là tài sản thuộc trường hợp sở hữu chung hợp nhất. Vì vậy, người có quyền khởi kiện trong vụ việc này phải là “các sở hữu chung hợp nhất” - trong trường hợp này là toàn bộ các thành viên thuộc chi tộc họ Nguyễn thứ chi.

Một số cá nhân không được toàn bộ các thành viên thuộc chi tộc họ Nguyễn ủy quyền hợp pháp để nhân danh và thay mặt “các sở hữu chung” quyết định về việc cử đại diện khởi kiện và tham gia tố tụng. Vì vậy Giấy ủy quyền do các cá nhân này tự ý đại diện họ Nguyễn ký để ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Bảo và ông Nguyễn Mạnh Tuyên khởi kiện là không có giá trị pháp lý. Việc ông Nguyễn Văn Bảo và ông Nguyễn Mạnh Tuyên tự ý đại diện chi tộc họ Nguyễn khởi kiện mà không có việc ủy quyền hợp pháp của toàn bộ các thành viên thuộc chi tộc Họ nguyễn thứ chi là trái quy định pháp luật. Hai giấy ủy quyền do nguyên đơn cung cấp đều vi phạm nghiêm trọng quy định về chứng thực chữ ký được quy định tại Nghị định 79/2007, đó là: Cá nhân yêu cầu chứng thực phải xuất trình các giấy tờ là CMND hoặc Hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác cùng với giấy tờ, văn bản mà mình sẽ ký vào đó.

Phần tranh luận tại phiên tòa xét xử vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất

Phần tranh luận tại phiên tòa xét xử vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất

Người yêu cầu chứng thực phải ký trước mặt người thực hiện chứng thực. Người thực hiện chứng thực phải ghi rõ ngày, tháng, năm chứng thực; địa điểm chứng thực, số giấy tờ tùy thân của người yêu cầu chứng thực, ngày cấp, nơi cấp, chữ ký trong giấy tờ, văn bản đúng là chữ ký của người yêu cầu chứng thực, sau đó ký và ghi rõ họ tên và đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền chứng thực. Cả hai giấy ủy quyền do bên Nguyên đơn cung cấp có nhiều cá nhân chỉ có tên, không có bất kỳ thông tin cá nhân nào. Phần chứng thực của UBND xã Xuân Hòa chỉ là ký và đóng dấu không có lời chứng. Nhiều cá nhân ở xa không có mặt ký trước mặt người thực hiện chứng thực nhưng UBND xã Xuân Hòa vẫn ký, đóng dấu.

Mặt khác, xem xét danh sách những người ký ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Bảo, ông Tuyên chỉ thấy một số người là Nam giới trong dòng họ. Trong khi Hiến pháp, Luật tố tụng dân sự, Luật dân sự đều khẳng định nguyên tắc bình đẳng không phân biệt giới tính, lứa tuổi. Đây là vụ việc tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, vì vậy các cá nhân cả Nam, Nữ thuộc họ Nguyễn đều có quyền bình đẳng với nhau.

Việc loại trừ các cá nhân là Nữ là vi phạm nguyên tắc bình đẳng nêu trên. Từ các phân tích trên, khẳng định rằng Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn thụ lý Đơn khởi kiện do Ông Nguyễn Văn Bảo và Ông Nguyễn Mạnh Tuyên ký tên là vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Căn cứ theo điểm c, khoản 1, Điều 192 BLTTDS thì: “Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự các trường hợp sau đây: Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện”. Vậy nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn đình chỉ giải quyết vụ án.

Bà Nguyễn Thị Lương - Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa đã yêu cầu bên Nguyên đơn đưa ra chứng cứ pháp lý về vấn đề ủy quyền và ông Nguyễn Văn Bảo đã nói trước tòa rằng: Quốc có Quốc pháp, Gia có Gia phong và trình bày về việc ông và ông Tuyên được đại diện hợp pháp là bởi trong họ tộc nhà ông có Hội đồng họ tộc ủy quyền. LSBVBD đề nghị HĐXX hướng dẫn Nguyên đơn xem lại các quy định về pháp luật vì bên Bị đơn đã có GCN QSDĐ nên không thể căn cứ vào Tộc họ không có GCNQSDĐ mà ủy quyền được.

Luật sư bảo vệ Nguyên đơn (LSBVNĐ) nói: Khởi kiện là quyền của đương sự, còn thụ lý vụ án hay không là do Tòa án và Chủ tọa phiên tòa đã yêu cầu bên Nguyên đơn đưa ra chứng cứ pháp lý về vấn đề ủy quyền. Bên Nguyên đơn đã đưa ra 2 văn bản ủy quyền nêu trên.

Còn về yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện và đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, ông Nguyễn Văn Bảo và ông Nguyễn Mạnh Tuyên đưa ra 04 yêu cầu như sau: Thứ nhất: “Ngày 19/11/2011, gia đình bà Khanh họp thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là thửa đất có diện tích 538 m2, bà Nguyễn Thị Chắt (Khanh) được quyền định đoạt 291,5m2 số diện tích còn lại 291,5m2 (phần ông Đính) thỏa thuận tự phân chia thành 5 phần cho các thành viên trong gia đình. Trong lúc nhà thờ là tài sản chung của thứ chi Họ Nguyễn đang tọa lạc trên phần đất này.

Ông Bảo và ông Tuyên đại diện cho bên Nguyên đơn

Ông Bảo và ông Tuyên đại diện cho bên Nguyên đơn

Ông Thắng - Luật sự bảo vệ Bị đơn

Ông Thắng - Luật sự bảo vệ Bị đơn

Mặt khác tại biên bản thỏa thuận phân chi bà Vinh là thành phần tham gia họp, nhưng không ký tên vào biên bản đồng nghĩa với việc bà Vinh chưa thống nhất văn bản phân chia. Như vậy biên bản này không có giá trị pháp lý. Vì vậy yêu cầu Tòa án hủy bỏ biên bản phân chia di sản thừa kế”.

Ý kiến LSBVBĐ: Theo quy định pháp luật dân sự và đất đai, người có quyền thừa kế di sản hợp pháp có quyền định đoạt phần di sản thừa kế của mình. Việc bà Vinh đồng ý cho con trai là Nguyễn Văn Quang toàn bộ phần tài sản bà được hưởng từ bố mẹ (ông Đính, bà Chắt) là ý chí tự nguyện, đúng quy định pháp luật, không ai có quyền can thiệp.

Yêu cầu của ông Nguyễn Văn Bảo và ông Nguyễn Mạnh Tuyên về việc hủy bỏ biên bản phân chia di sản thừa kế nêu trên là xâm phạm đến quyền tự do định đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân. Đề nghị quý Tòa không chấp nhận yêu cầu; Thứ hai: “Việc bà Khanh lập di chúc thừa kế cho bà Vinh và anh Quang toàn bộ thửa đất hiện đang có ngôi nhà thờ chung của thứ chi họ Nguyễn được xây cất năm 1883 là trái với quy định của pháp luật. Bà Khanh không có quyền thừa kế ngôi nhà thờ của chi họ mà đó là tài sản chung của cả họ tộc góp công sức tiền của để nâng cấp tu sửa nhiều đợt vào các năm 1989, 1995, 1999, 2007. Vì vậy yêu cầu Tòa án hủy bỏ di chúc của bà Nguyễn Thị Chắt (Nguyễn Thị Khanh) vào ngày 05/10/2012”. Ý kiến LSBVBĐ: Bà Nguyễn Thị Chắt là chủ sử dụng hợp pháp đối với ½ thửa đất số 376 tờ bản đồ số 5 tại xóm 7, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, đã được UBND huyện Nam Đàn cấp GCNQSDĐ số D0842384 ngày 15/8/1994. Bà có toàn quyền định đoạt tài sản hợp pháp của mình trong đó có quyền lập di chúc. Văn bản di chúc đã được Văn phòng công chứng An Hưng, huyện Hưng Nguyên công chứng.

Vì vậy yêu cầu của ông Nguyễn Văn Bảo và ông Nguyễn Mạnh Tuyên về việc hủy bỏ di chúc của bà Nguyễn Thị Chắt là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, không đúng quy định pháp luật. Do đó, đề nghị quý Tòa không chấp nhận yêu cầu của ông Bảo và ông Tuyên về việc hủy bỏ di chúc của bà Nguyễn Thị Chắt; Thứ ba: “Do nhà thờ chung của thứ chi họ Nguyễn được xây dựng năm 1883 trên thửa đất số 376, khi có chủ trương cấp GCNQSD đất thì bà Khanh làm thủ tục kê khai, nhưng cấp có thẩm quyền không thẩm tra, xem xét tính hợp pháp của thửa đất để cấp GCNQSD. Vì vậy yêu cầu Tòa án hủy GCNQSD đất số D0842384 cấp ngày 15/8/1994 mang trên bà Nguyễn Thị Khanh (Nguyễn Thị Chắt)”. Ý kiến LSBVBĐ: Việc ông Bảo và ông Tuyên cho rằng, trên thửa đất 376 hiện đang có ngôi nhà thờ chung của thứ chi họ Nguyễn được xây cất năm 1883 là tình tiết khai nại không căn cứ.

Hiện tại, tòa án đang thụ lý xét xử tranh chấp về ngôi nhà ngói 03 gian mà ông Bảo và ông Tuyên cho rằng đó là nhà thờ chung của thứ chi họ Nguyễn, khi chưa có quyết định của một bản án có hiệu lực pháp luật thì không thể chấp nhận yêu cầu bởi Tại văn bản số 2152/UBND ngày 21/12/2015 của UBND huyện Nam Đàn đã khẳng định: Tại thời điểm năm 1994, hộ gia đình bà Nguyễn Thị Khanh (bà Chắt) đã quản lý, sử dụng thửa đất ổn định, không tranh chấp, phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của Nhà nước. Quy trình, thủ tục hồ sơ cấp GCNQSD đất đã thực hiện đúng quy định pháp luật. UBND huyện Nam Đàn cấp GCNQSD đất số D0842384 cấp ngày 15/8/1994 mang trên bà Nguyễn Thị Khanh (Nguyễn Thị Chắt) là đúng đối tượng theo quy định của pháp luật. LSBVBĐ đưa vấn đề là nếu Nguyên đơn cho rằng GCN QSDĐ cấp sai quy định pháp luật thì Bị đơn phải là UBND huyện Nam Đàn - cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định cấp và cấp GCN QSDĐ.

Đây là một nội dung khởi kiện hành chính, xét quy định pháp luật, thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cấp GCN QSDĐ, hủy GCN QSDĐ số D0842384 cấp ngày 15/8/1994 mang trên bà Nguyễn Thị Khanh (Nguyễn Thị Chắt) đã hết. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn căn cứ điểm h, khoản 1 Điều 192 BLTTDS đình chỉ giải quyết phần yêu cầu khởi kiện này.

Ngay tại phiên tòa, một lần nữa đại diện của UBND huyện Nam Đàn đã tiếp tục khẳng định quan điểm: GCN QSDĐ cấp cho bà Nguyễn Thị Khanh (Nguyễn Thị Chắt) là đúng đối tượng, đúng trình tự thủ tục. Tại thời điểm cấp cho đến nay mặc dù các cấp chính quyền thực hiện công khai, dân chủ, niêm yết tại địa phương nhưng không có bất kỳ khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp nào liên quan. Ông Bảo, ông Tuyên cũng xác nhận là phía họ tộc không có tranh chấp nào.

Yêu cầu khởi kiện Thứ tư của Nguyên đơn: “Yêu cầu Tòa án buộc bà Vinh, anh Quang trả lại ngôi nhà thờ với diện tích 130 m2 cho thứ chi Họ Nguyễn hiện đang tọa lạc trên thửa đất 376 tại xóm 7, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn”. Ý kiến LSBVBĐ: Về việc xác định Bị đơn của vụ án: Trong toàn bộ hồ sơ vụ án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn xác định anh Nguyễn Văn Quang là Bị đơn, bà Nguyễn Thị Vinh là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên tại yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện, nguyên đơn lại bổ sung thêm yêu cầu nêu trên, theo đó yêu cầu Tòa án “buộc bà Vinh, anh Quang trả lại ngôi nhà thờ…”.

Vậy xác định Bị đơn đã đầy đủ chưa? Bà Vinh là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hay là Bị đơn của vụ án mới chính xác theo đúng quy định pháp luật? Theo Bộ luật TTDS tại Điều 79 về nghĩa vụ chứng minh quy định: Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp và Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.

Căn cứ theo hồ sơ vụ án, phía ông Bảo và ông Tuyên không cung cấp được bất kỳ chứng cứ hợp pháp nào để bảo vệ cho yêu cầu của mình. Các ông cho rằng ngôi nhà ngói 03 gian trên thửa đất 376 là “nhà thờ chung” của thứ chi Họ Nguyễn nhưng không cung cấp được hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc hình thành, quá trình xây dựng, đóng góp của toàn bộ họ Nguyễn. Nhà thuộc sở hữu của ông Đính, bà Chắt sinh sống bao nhiêu năm, các thế hệ con cháu lần lượt được sinh ra, lớn lên tại đó là tài sản hợp pháp của ông Đính, bà Chắt được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm hôm nay, bên Nguyên đơn vẫn không đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ có giá trị pháp lý nào để bảo vệ cho yêu cầu của mình.

Từ đầu đến cuối phiên xét xử, bên Nguyên đơn chỉ trích dẫn các nội dung được ghi trong cuốn sách không có Giấy phép xuất bản in năm 2006 với tên gọi là Nguyễn Tộc Chi Thứ mà bên Nguyên đơn gọi là Gia phả - Đây là cuốn sách tự đặt in với các thông tin không được kiểm chứng hay có bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào bảo hộ không thể xem là chứng cứ chứng minh ngôi nhà 3 gian là “nhà thờ họ”.

Mọi thông tin và lý luận của Nguyên đơn chỉ là: cảm thấy, cảm nhận, cho rằng, nghe truyền lại rằng, theo tộc ước vv… hoàn toàn không có cơ sở thuyết phục. Kết thúc phiên tòa, sau phần Nghị án bà Nguyễn Thị Lương - Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX thông báo là tới sáng ngày 19/4/2016 sẽ tiếp tục phiên tòa và sáng ngày 19/4 bà Lương đã tuyên án với nội dung như 4 nội dung yêu cầu khởi kiện của bên Nguyên đơn trước sự ngỡ ngàng của rất nhiều người có mặt tại phiên tòa. Trao đổi nhanh với phóng viên, một vị đại diện bên Bị đơn cho biết rằng họ sẽ kháng cáo.

Thiết nghĩ: Đây là tranh chấp về ngôi nhà gắn liền với đất, quyền sở hữu và quyền sử dụng được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật liên quan của luật đất đai, luật dân sự. Vì vậy để chứng minh có phải là tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của mình hay không cần phải có quá trình sử dụng, có các tài liệu giấy tờ được quy định trong Luật và các văn bản hướng dẫn. Quá trình sử dụng ngôi nhà 3 gian vào mục đích để ở của ông Đính bà Chắt, các con, cháu là ổn định, lâu dài, không tranh chấp.

Quyền sử dụng đất đã được Nhà nước công nhận bằng việc cấp GCN QSDĐ hơn 20 năm và các thế hệ sinh sống tại đây đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan, đồng thời đã thực hiện các quyền sử dụng, quản lý, định đoạt lâu dài. Việc anh Nguyễn Văn Quang được hưởng di sản thừa kế của ông bà ngoại để lại (theo di chúc và theo pháp luật) là hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Từ những chứng lý và sự chứng kiến của phóng viên, nhà báo tác nghiệp tại phiên tòa, chúng tôi đề nghị Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An cần xem xét vụ án một cách khách quan, toàn diện để ra một Bản án dân sự phúc thẩm công minh, đúng pháp luật.

Nhật Thăng - Thái Quảng

Tin Điều tra - Bạn đọc tiếp theo

Tin Điều tra - Bạn đọc mới nhất