Thứ Ba , 12:45, Ngày 20/08/2019

Gia đình và pháp luật

Một số vấn đề về quyền nhân thân đối với hình ảnh

Tuần qua, Tòa soạn nhận được thắc mắc của bạn đọc ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Nội dung, bạn đọc hỏi:

“Một doanh nghiệp có ý định khởi kiện một tổ chức đã sử dụng hình ảnh có liên quan đến bảng hiệu quảng cáo doanh nghiệp ở vị trí công cộng. Điều này đúng hay sai?”.

Ảnh minh họa.

Trả lời:

Trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, quyền của cá nhân đối với hình ảnh được quy định cụ thể tại Điều 32 trong Mục 2 Chương III của BLDS. Điều này thể hiện nội dung quyền của cá nhân đối với hình ảnh quy định trong BLDS năm 2015 được tiếp cận dưới góc độ chính là quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh.

Điều 32 BLDS năm 2015 quy định:

“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, nhìn vào quy định trên và so sánh với Điều 31 BLDS năm 2005, có thể thấy quy định này đã có một số điểm mới quan trọng như sau:

Thứ nhất, bổ sung nội dung quy định về việc phải trả thù lao cho người có hình ảnh nếu sử dụng hình ảnh vì mục đích thương mại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện nay rằng không phải trong mọi trường hợp ghi hình, phát tán, sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại, người có hình ảnh cũng đều phản đối việc người khác sử dụng hình ảnh của mình.

Thứ hai, quy định rõ các trường hợp không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ khi sử dụng hình ảnh người đó, bao gồm: sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; sử dụng hình ảnh từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Thứ ba, thay đổi phạm vi những người có quyền đồng ý cho phép người khác sử dụng hình ảnh từ “cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người có hình ảnh” thành “người đại diện theo pháp luật của người có hình ảnh”.

Thứ tư, quy định trong mọi trường hợp sử dụng hình ảnh của người bị tuyên bố mất tích hoặc của người đã chết đều phải có sự đồng ý của vợ, chồng, con thành niên hoặc cha, mẹ của người đó, kể cả việc sử dụng đó vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc được sử dụng từ các hoạt động công cộng mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Thứ năm, quy định trực tiếp quyền của người có hình ảnh yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, … ngay trong điều luật quy định về quyền đối với hình ảnh (cụ thể là tại Điều 32 BLDS năm 2015).

Như vậy, việc một cá nhân hay tổ chức sử dụng hình ảnh không phải của một cá nhân cụ thể cho mục đích nào đó thì không được xem là hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

Luật gia Đỗ Minh Chánh

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : hình ảnh quảng cáo quyền

Tin Tư vấn Luật tiếp theo

Tin Tư vấn Luật mới nhất