Chủ nhật, 13:21, Ngày 22/09/2019

Gia đình và pháp luật

Một cuộc đời gắn liền với Bác

Quả là hiếm có bởi trên thế giới này chưa có một người thư ký nào như ông. Làm thư ký riêng cho vị Chủ tịch nước suốt 25 năm rồi tự tay cầm chiếc quạt gom cơn gió lành tiễn vị Chủ tịch nước thiên tài về cõi vĩnh hằng bất tử.

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi theo các cụ Các Mác, Lênin thì ông lại làm Viện trưởng Viện Bảo tàng mang tên Bác, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Rồi ông về hưu từ cương vị duy nhất ấy đúng vào sinh nhật Bác 19 tháng 5 năm 1990. Ngay cả cái tên của ông bây giờ cũng được Bác đặt cho. Người thư ký ấy được người ta quen gọi là đồng chí Vũ Kỳ.

Đồng chí Vũ Kỳ - Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tên thật của ông là Nguyễn Cần, ông sinh năm 1921 tại xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Theo lời ông kể thì ông không hề được biết trước mình được chọn làm thư ký cho Bác Hồ. Ông nhớ lại rằng sau khi cả nước tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chiều ngày 26/8/1945 đồng chí Trường Chinh cho xe ô tô bí mật đón Bác về nhà ông Trịnh Văn Bô ở 48 Hàng Ngang. Căn nhà này còn có một lối đi cửa sau là 35 Hàng Cân lên ở gác hai. Phòng này chủ nhà có bộ bàn ăn. Bác xin dùng để hội họp.

Bác về được một ngày thì ngay ngày hôm sau tức 27 tháng 8 năm 1945 (20 tháng 7 Ất Dậu), khoảng bảy giờ sáng thì đồng chí Trần Đăng Ninh đưa ông tới gặp Bác. Ông kể: "Trước đó anh Ninh đến gặp tôi bảo "Đi công tác ngay". Tôi hỏi lại "Đi có lâu không?". Anh  Ninh trả lời ngắn gọn "Lâu". "Có cần mang theo gì không" - Tôi hỏi. "Mang mấy bộ quần áo", anh Ninh trả lời vậy rồi kéo tôi đi luôn.

Hai chúng tôi đi bộ lòng vòng, khoảng bảy giờ sáng thì tới 48 Hàng Ngang. Lúc này anh Trần Đăng Ninh mới nói nhỏ "Đồng chí được Trung ương chọn giao làm thư ký cho Cụ". Tôi không biết, thành thật hỏi lại: "Thưa anh, Cụ nào ạ?". Anh Ninh nói nhỏ: "Còn Cụ nào nữa. Cụ Nguyễn Ái Quốc". Trời ơi, đến lúc ấy bỗng chốc người tôi cứ lâng lâng, phấn khởi tự hào vô cùng.

Là thanh niên mới hai tư tuổi mà được chọn làm thư ký cho một lãnh tụ. Tự hào lắm chứ, nhưng pha lẫn là nỗi lo lắng không biết mình có hoàn thành được nhiệm vụ không. Càng nghĩ lại càng thấy lo. Tôi được dẫn lên gác hai, thấy anh Nguyễn Văn Trân (sau này là Bí thư Thành uỷ Hà Nội), anh Khang ở đây. Chúng tôi lặng lẽ chào nhau. Lúc này tôi thấy Bác Hồ đang họp ở phòng bên. Khoảng mười giờ sáng thì Bác nghỉ họp, anh Ninh dẫn tôi lại báo cáo: "Thưa Cụ, người mà Cụ bảo chọn đã đến đây ạ". Lúc này, tôi quan sát thấy Bác mặc quần áo màu nâu. Lúc Bác đi loáng qua đèn điện tôi thấy rõ Bác rất yếu.

Tôi tưởng tượng Cụ Nguyễn Ái Quốc phải khác, nhưng không ngờ Bác lại gầy đến thế. Bác nhìn tôi, đôi mắt sáng bao dung hỏi: "Tên chú là gì?". Tôi sợ sệt, nói luống cuống "Dạ thưa Cụ, cháu tên là Nguyễn Cần ạ". Do tôi nói nhỏ quá, Bác nghe chưa rõ nên hỏi lại: "Cẩn hả. Cẩn là cẩn thận, tốt lắm. Thôi chú đi nghỉ đi, sáng mai ta làm việc". Sáng hôm sau tôi dậy sớm thì thấy Bác đã dậy trước từ lúc nào. Tôi sang chỗ Bác làm việc. Lúc này chỉ có hai bác cháu, Bác hỏi lại: "Tên chú là gì?". "Thưa Cụ,  tên cháu là Nguyễn Cần". Lần này vì đỡ lo sợ, tôi nói rõ ràng nên Bác nghe rõ. Bác bảo: "Cần à. Cần là tốt. Cần là cần kiệm, liêm chính".

Sau này tôi được biết, các anh Trung ương đã giới thiệu ba người để Bác chọn làm thư ký. Bác chọn tôi là người "bé nhất", không có chức vụ gì. Còn hai người khác Bác bảo: "Họ đã có trọng trách để họ hoàn thành nhiệm vụ". Qua hai lần Bác hỏi tên tôi, tôi tinh ý nhận ra lời dạy đầu tiên của Bác đối với tôi là phải Cẩn thận - Cần kiệm - Liêm chính. Sáng hôm đó Bác bảo tôi: "Chú lấy giấy bút lại đây" rồi đọc cho tôi chép bằng tiếng Pháp lời kêu gọi của Bác gửi nhân dân Pháp. Đây là việc đầu tiên nên tôi chú ý chép hết sức cẩn thận. Sau đó tôi đưa Bác xem lại, Bác xem, sửa chữa rồi nói: "Bài này ngắn mà chú cũng chép sai đến ba lỗi đấy. Chú học đến đâu rồi?".

Nghe Bác hỏi, tôi báo cáo: "Thưa Cụ, cháu cũng mới học đỗ Diplom Trường Bưởi, đang học năm thứ nhất tú tài năm 1936 thì mật thám Pháp lùng bắt nên bỏ trốn. Cháu bỏ học lâu rồi nên bị quên ạ". Nghe thế, Bác nghiêng đầu hỏi rất tình cảm: Chú biết Bác học đến đâu không? Tại sao Bác học kém hơn chú, hoạt động cách mạng lâu hơn chú mà lại sửa lỗi cho chú. Chú biết tại sao không? Vì chú học không liên tục, còn Bác thì học liên tục". Từ lời dạy này của Bác, tôi ngẫm ra một điều nữa, con người ta phải học tập không ngừng là vì thế.

Đó là những kỷ niệm đầu tiên của ông trong cuộc đời 1àm thư ký cho Bác. Rồi kháng chiến bùng nổ, ông theo Bác về chiến khu. Vào một ngày đầu xuân năm 1947, tại xã Cổ Tiết, tỉnh Phú Thọ, ông được Bác đặt cho cái tên Vũ Kỳ.

Theo ông kể thì hồi đó tổ phục vụ Bác gồm thư ký, bảo vệ, lái xe, phục vụ nấu ăn đều được Bác đặt tên theo lần lượt: Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi. Sau khi đặt tên xong, Bác bảo: "Tổ của ta phải quân sự hoá cho gọn nhẹ. Đặt tên cho các chú, hàng ngày gọi tên các chú, coi như các chú đã giúp Bác hoàn thành nhiệm vụ".

Có một chuyện liên quan đến việc ông lấy vợ. Nay kể lại, ông coi đây là bài học nhớ đời. Số là năm 1946, ở Hà Nội, đã hai năm, hai sáu tuổi, gia đình giục ông cưới vợ. Nghe tin có người gợi ý đợi các anh Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Cơ Thạch cùng cưới luôn một thể. Lễ cưới tập thể dự định tổ chức tại một nhà hàng bánh kép ở phố Hàng Đào, làm đơn giản và vui theo nếp sống mới.

Bác nghe liền nhắc nhở ông: "Ta mới giành được chính quyền. Việt Minh mới về Thủ đô được ít ngày mà các chú định phá tập tục của bà con ở Hà Nội hay sao?".

Ý Bác dạy là Hà Nội xưa nay lễ giáo thanh lịch lắm, đâu có đám cưới tập thể. Một kỷ niệm khác cũng khiến ông nhớ mãi. Năm 1960, ông được tháp tùng Bác cùng đoàn lãnh đạo Đảng ta sang thăm Liên bang Xô Viết. Vừa sang đến Matxcơva, các đồng chí Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô mang đến một tập phong bì đựng tiền rúp đưa cho ông. Ông bảo: "Các đồng chí cứ cầm lấy đợi tôi xin ý kiến Hồ Chủ tịch đã".

Vũ Kỳ báo cáo với Bác, Bác nói đại ý: "Đây là tiền tiêu vặt bạn cho ta để chi tiêu, hay mua quà cho người thân. Chú cứ cầm lấy phát cho mọi người trong đoàn". Nghe lời Bác, ông Vũ Kỳ liền phát cho mọi người, còn hai phong bì của Bác và của ông thì để trên bàn làm việc của mình.

Bác nhắc: "Chú cứ để nó vào ngăn kéo của Bác ấy".

Thời gian sau đó, làm việc miệt mài căng thẳng, Vũ Kỳ quên khuấy chuyện phong bì. Nhưng khi đoàn chuẩn bị về nước, Bác chỉ thị cho Vũ Kỳ mời các đồng chí phục vụ của bạn tới. Bác mở ngăn kéo lấy hai phong bì đựng tiền trao cho các đồng chí bạn và nói: "Đây là số tiền các đồng chí cho tôi và đồng chí Vũ Kỳ nhưng chúng tôi sống ở đây thấy rất đầy đủ, được các đồng chí giúp đỡ nên không thiếu một thứ gì. Nay xin nhờ các đồng chí gửi tặng lại cho quỹ của báo Đảng Cộng sản Liên Xô".

Các đồng chí bạn cảm động, khâm phục Bác vô cùng. Từ đó đến nay Vũ Kỳ nhớ mãi cử chỉ ấy của Bác, tự răn mình sẽ không bao giờ nhận phong bì. Đầu năm nay, có một nữ phóng viên cầm phong bì đựng ít tiền nhuận bút đến nhà, Vũ Kỳ nhận xong liền gửi tặng nữ phóng viên nọ về mua quà cho gia đình. Ông bảo: "Làm được những việc như thế, thấy lòng thanh thản lắm. Bác Hồ biết thế nào Bác cũng hài lòng".

Bác luôn dạy ông phải tiết kiệm và hiệu quả. Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Bác và Chính phủ trở về Thủ đô. Bác bảo Vũ Kỳ: "Bác có văn phòng, lẽ ra phải có võ phòng. Nhưng như thế cồng kềnh quá. Ta tổ chức gọn nhẹ, giao cho chú được quyền bấm nút các Bộ, các văn phòng khác để chạy việc cho tốt". Chính vì thế, bộ phận phục vụ Bác lúc nào cũng gọn nhẹ  nhưng hiệu quả.

Năm 1965, sức khỏe của Bác yếu dần. Theo chỉ thị của Bác, ông lặng lẽ chuẩn bị giấy bút để Bác khởi thảo những dòng di chúc đầu tiên. Mùa thu năm 1969 là những ngày Bác Hồ mệt nặng. Như một người con với người cha, lúc nào ông cũng túc trực bên cạnh Bác.

Trong buổi tiếp chúng tôi, ông kể: Ngày 27/8/1969, Bác tập thể dục, ăn sáng xong thì bác sĩ kiểm tra sức khoẻ, thấy tim Bác đập không bình thường. Bác sĩ đề nghị Bác không lên nhà sàn làm việc nữa và ngủ ở nhà dưới. Ngày 29/8/1969, Bác làm việc bình thường, 1ại còn đi bộ được ra đằng sau nhà. Tôi vặn to đài để Bác nghe bài thơ lục bát của ai đó sáng tác diễn ca về điều lệ hợp tác xã, Bác khen bài thơ tốt, bảo anh Lành (Tố Hữu) sửa lại cho bà con xã viên dễ thuộc.

Nhưng mười ba giờ hôm đó, Bác bị nhồi máu cơ tim, nằm bất tỉnh. Tối ngày 1 tháng 9 năm 1969, mấy lần mạch của Bác không bắt được, tôi mời các anh Bộ Chính trị sang. Hai mốt giờ ba mươi đến hai hai giờ ngày 1 tháng 9 năm 1969, Bác hỏi: "Có phải ngày mai kỷ niệm Quốc khánh 2/9 không?". Tôi trả lời: "Thưa Bác vâng ạ. Nhưng lễ kỷ niệm thì anh Tô (Phạm Văn Đồng) thay mặt Bác đã chủ trì tổ chức từ tối 30 tháng 8 rồi ạ".

Nghe thế, Bác không hỏi gì nữa. Và chín giờ bốn bảy phút ngày 2 tháng 9 năm 1969 thì Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta. Tôi nghĩ Người là ông Thánh. Chính Người khi nghe tin đã tổ chức xong lễ kỷ niệm Quốc khánh thì chọn giờ ra đi theo cụ Các Mác, Lênin. Tất cả các anh trong Bộ Chính trị cùng khóc. Tôi cũng khóc nhưng cái quạt trên tay tôi cứ phe phẩy không dừng lại được bởi tôi cứ tin Bác Hồ còn sống mãi...

Nhiều năm sau, khi Bác Hồ từ trần, ông Vũ Kỳ giữ chức Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh. Năm 1989, hai mươi năm sau ngày Bác qua đời, người thư ký Vũ Kỳ lúc này là Đại biểu Quốc hội khoá VIII. Chính ông đã kiến nghị với Trung ương và Bộ Chính trị công bố lại đúng ngày mất và di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là thời điểm thuận lợi nhất để công bố một sự kiện lớn thuộc về những vấn đề cơ mật của Đảng, Nhà nước. Làm xong công việc mà ông cho là trọng đại đó, đúng ngày 19 tháng 5 năm 1990, đúng vào ngày sinh lần thứ một trăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Vũ Kỳ xin nhận quyết định nghỉ hưu.

Lưu Vinh

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tags : bác hồ thư ký chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2/9

Tin Nhân vật - Sự kiện tiếp theo

Tin Nhân vật - Sự kiện mới nhất