Thứ Năm , 22:59, Ngày 21/11/2019

Gia đình và pháp luật

'Lỗ hổng' pháp lý đối với bệnh nhân tâm thần?

Điều trị cho một bệnh nhân mắc bệnh tâm thần chưa được toà án xác nhận đang trở thành thách thức đối với thân nhân người bệnh và bác sỹ bệnh viện bởi sự mù mờ của pháp luật.

Không ít trường hợp bệnh nhân sau khi được điều trị ổn định đã trở thành “con rối” để các đối tượng cơ hội giật giây, kích động tố lại người đã chăm sóc mình. “Làm phúc lại phải tội, làm ơn bị báo oán” đang là thảm hoạ đạo đức cho công tác bảo vệ sức khoẻ tâm thần rất cần được điều chỉnh bởi luật.

Đây là những bệnh nhân tâm thần vô thừa nhận trong số 45 bệnh nhân đang nội trú vĩnh viễn tại Bệnh viện chăm sóc sức khoẻ tâm thần Quảng Ninh.

Một trường hợp tại Hải Phòng, cô X. có chồng là B. Chồng cô mắc bệnh mất ngủ kinh niên. Sau một lần đi phụ hồ trong trời "nắng như đổ lửa", về nhà anh B. tắm ngay và bị lên cơn co giật, nói lảm nhảm, hoang tưởng... rốt cuộc anh B. được điều trị nhưng bệnh viện chẩn đoán là anh bị tâm thần phân liệt và được phát sổ, lĩnh thuốc uống thường xuyên. Nhưng cũng chỉ được khoảng 5 năm ổn định; anh B. lại gây sự đánh vợ con và đòi tự tử...

Hợp tác với gia đình nhà chồng để đưa anh B. đi chữa bệnh nhiều lần cô X. bị từ chối vì trước đó giữa vợ chồng cô X. với gia đình bên chồng có những tranh chấp, bất hoà. Cô X. sợ nguy hiểm đến con nên đã dắt con “lánh nạn”. Rồi nghĩ tình vợ chồng, cô X. lại đưa con trở về để tìm mọi cách thuyết phục từng thành viên gia đình nhà chồng hỗ trợ đưa anh B. đi chữa bệnh nhưng họ không chấp thuận. Cô X. đành phải nhờ tới nhân viên bảo vệ bệnh viện hỗ trợ đưa chồng lên taxi để tới bệnh viện điều trị.

Nào ngờ sau khi ổn định, ra viện anh B. cùng gia đình nhà chồng đâm đơn kiện về hành vi “bắt giữ người và chữa bệnh bắt buộc” của cô X. và bệnh viện. Sau một hồi thụ lý của các cơ quan chức năng thì cô X. và bệnh viện được “giải oan”. Đúng là làm ơn bị báo oán, sau lần đó, cô X. gạt nước mắt, đâm đơn ra toà yêu cầu giải quyết ly hôn với anh B. Nghe đâu mấy năm sau, anh B. lại phát bệnh và rời nhà đi mất tăm, mất tích...

Việc xác định một người bị bệnh tâm thần là do tính chủ quan của những người sống xung quanh họ. Sau khi khám và chữa trị tại các bệnh viện để có kết luận người bệnh mắc chứng tâm thần thể loại gì cũng chỉ mang tính hành chính chuyên ngành chứ chưa phải tính pháp lý. Chỉ sau khi người bị nghi là tâm thần được thân nhân, người đại diện hoặc tổ chức liên quan yêu cầu giám định pháp y tâm thần và toà án tuyên bố tình trạng mất hành vi năng lực dân sự người đó mới bị hạn chế một số quyền và người đại diện, bảo hộ cho người đó mới được quyền thay mặt.

Được biết, ở một số nước phát triển thì việc quy định đưa người mắc bệnh tâm thần đi chữa trị cũng đều nằm trong “điểm mù” của luật. Tuy nhiên như ở Mỹ, nếu một công dân thấy rằng tính mạng hoặc tài sản của mình có nguy cơ bị đe doạ mà thông báo lên cảnh sát. Ngay lập tức cảnh sát sẽ có quyền yêu cầu người có hành vi đe doạ đến tính mạng và tài sản của đương sự phải di dời ra xa trong một khoảng cách và thời gian tuỳ theo mức độ đe doạ tới đương sự một khoảng nhất định. Hoặc nếu chưa đủ mức phải di dời thì cảnh sát sẽ có biện pháp giám sát để đảm bảo chắc chắn rằng tình mạng và tài sản của đương sự không thể bị xâm phạm.

Ở nước ta hiện nay, một giả thiết được đặt ra cho tất cả các bệnh viện đang nuôi dưỡng và chữa bệnh cho người tâm thần vô thừa nhận: Nếu một bệnh nhân tâm thần vô thừa nhận đang sống trong các bệnh viện này có đơn hoặc thân nhân họ có đơn đại ý như: Mặc dù đối tượng bị bệnh tâm thần và đi lại tự do ngoài xã hội như mọi công dân khác chưa bị mất hành vi năng lực dân sự. Đối tượng không vi phạm gì đến trật tự an ninh khác. Đối tượng không có đơn xin chữa bệnh. Tuy nhiên người ta bắt buộc đối tượng phải chữa bệnh và không đáp ứng nhu cầu đi ra ngoài nơi cư trú… Vậy những tổ chức, cá nhân có liên quan đến đối tượng có vi phạm pháp luật gì không?

Trao đổi vấn đề này với Luật sư Vũ Long - Quảng Ninh, ông phân tích: “Thông thường theo luật pháp nếu một người có biểu hiện tâm thần (các trạng thái, hành vi tâm, sinh lý vượt quá mức bình thường - theo nhận định chủ quan của thân nhân họ) mà chưa đến mức vi phạm pháp luật về hành chính hay hình sự. Những người là thân nhân họ, đặc biệt là người đại diện đương nhiên (cha, mẹ, vợ, chồng, con) thấy việc đưa họ đi khám và điều trị bệnh để ngăn ngừa hậu quả có thể xảy ra và đảm bảo tốt ngay cho sức khoẻ, tính mạng người bệnh là một việc làm rất tốt, rất nhân tính và được xã hội đồng tình.

Trong trường hợp người bệnh chống đối, khước từ việc đi khám và chữa bệnh (tâm lý này khá phổ biến đối với người có triệu chứng bệnh tâm thần) thì thân nhân, người đại đại diện, hoặc tổ chức có liên quan có quyền yêu cầu người bệnh đi giám định pháp y tâm thần và toà án tuyên bố tình trạng mất hành vi năng lực dân sự. Sau đó thân nhân, người đại diện của người bệnh mới được quyền đưa họ đi khám, chữa bệnh. Nhưng vẫn không có quyền cưỡng chế nếu họ không muốn đi.

Cho đến tận bây giờ vẫn chưa có quy định nào cho việc cưỡng chế, bắt buộc người tâm thần bị mất hành vi năng lực dân sự mà chưa vi phạm pháp luật đi chữa bệnh. Nhưng thực tế tất cả hàng trăm nghìn người đã điều trị bệnh tâm thần hầu hết đều do gia đình đưa họ đến bệnh viện một cách miễn cưỡng khi chưa được họ đồng ý. Và cũng trên thực tế có rất, rất ít vụ các đối tượng do bất đồng quyền lợi, quan điểm, do mâu thuẫn cá nhân khác lợi dụng “điểm mù” của luật để tung đơn khiếu kiện nhau.

Chăm sóc bệnh nhân tâm thần nữ vô thừa nhận là nhiệm vụ hết sức phức tạp và vất vả.

Nếu đúng người được điều trị là tâm thần thì đây quả là sự khủng hoảng về đạo đức. Và vì sao trong thực tế rất ít khi thân nhân của người bệnh thực hiện đúng quy trình này vì liên quan đến danh dự người bệnh dẫn đến việc lợi bất cập hại khác (người mắc bệnh tâm thần kể cả sau điều trị ổn định có tâm lý rất phức tạp, rất dễ bị tổn thương nên rất dễ có hành vi tự tử).

Luật sư Long phân tích thêm: Đại đa số bệnh nhân tâm thần đều rất khoẻ bột phát khi họ chống đối lại một hành vi nào đó nên việc người thân phải đưa họ đi là sự bắt buộc có khi phải buộc chân, buộc tay, ôm, giữ hoặc trùm chăn, trùm lưới… mà không thể chính quyền nào có quyền hỗ trợ. Tuy nhiên xét về góc độ điều tra thì không thể quy cho thân nhân họ hành vi bắt, giữ người trái phép được vì mục đích ở đây là giúp bệnh nhân đi chữa bệnh để phòng trách hậu quả khác xảy ra và cũng là để đảm bảo sức khoẻ, tính mạng cho người bệnh. Chỉ khi nào cơ quan điều tra thấy dấu hiệu hành vi vì một mục đích vi phạm pháp luật khác của đối tượng và người bị bắt giữ không hề mắc tâm thần trước và khi đó thì hành vi bắt buộc người bị nghi tâm thần đi chữa bệnh mới có thể cấu thành tội phạm.

Như vậy, bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tâm thần là một loại bệnh của đối tượng chủ thể đặc biệt. Tuy vậy, cho đến nay chưa có hướng dẫn pháp luật nào cụ thể cho quy trình đưa đi - khám bệnh - chữa bệnh để đảm bảo chắc chắn rằng quyền lợi của người bệnh được hợp pháp không bị lợi dụng cho các vi phạm pháp luật khác.

Cần lên án những kẻ lợi dụng việc bắt buộc chữa bệnh để đưa người không bị tâm thần vào bệnh viện điều trị nhằm che đậy những vi phạm pháp luật khác. Càng lên án hơn những kẻ lợi dụng kẽ hở của luật pháp để kiện tụng, tố cáo những hành vi tốt nhằm mục đích giúp người bị bệnh tâm thần ổn định sức khoẻ và hoà nhập cộng đồng. Có thể nói những mâu thuẫn tầm thường từ phía thân nhân người bệnh, thậm chí động cơ, mục đích tống tiền lẫn nhau là một hành vi đê hèn, một “thảm hoạ về đạo đức” bởi nó vô ơn, bạc nghĩa vô cùng. Nó là nguồn cơn gây ra các thảm hoạ nhân đạo khác đối với bệnh nhân tâm thần. Do vậy, Quốc hội, Chính phủ, nhất là Bộ Y tế nên cân nhắc ban hành các văn bản hướng dẫn về vấn đề trên.

Văn Nguyễn

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : pháp luật tâm thần bệnh tâm thần lỗ hổng pháp lý

Tin Góc nhìn luật gia tiếp theo

Tin Góc nhìn luật gia mới nhất