Chủ nhật, 13:22, Ngày 16/12/2018

Gia đình và pháp luật

Lê Văn Phương và các bài thơ mang tình người, hồn nước

Ông không phải là nhà thơ, nhà văn nhưng với hàng nghìn bài thơ và 111 tập sách Kiến văn tạp lục thời @, mỗi tập dày trên dưới 600 trang, do ông tập hợp biên soạn.

Những cuốn sách của ông được viết trên nhiều lĩnh vực dân gian, quân sự, chính trị, triết học, thiên văn học, xã hội học… mà báo đã có dịp giới thiệu về ông, cùng các tác phẩm nói trên.

Sau loạt 2 bài “Cựu chiến binh Lê Văn Phương với Kiến văn tạp lục thời @”, chúng tôi cũng nhận được những lời khen về một CCB thương binh tàn nhưng không phế, và thực tế đã chứng minh về ông đúng như thế.

Cựu chiến binh Lê Văn Phương.

Để bạn đọc hiểu và trân quý ông hơn, người viết bài này xin bật mí về ông như sau: Ông sinh năm 1945, tại thôn Song Động, xã Tân An, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tháng 6/1965, sau khi tốt nghiệp phổ thông ông lên đường nhập ngũ, tháng 2/1966 ông được đơn vị chọn đi học trường Sĩ quan thông tin, tháng 4/1967 ông được Bộ Quốc phòng cử sang Liên Xô học chuyên sâu ngành thông tin liên lạc phục vụ chiến đấu, tháng 6/1968 ông về nước tiếp tục chiến đấu tại tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh, tháng 4/1970 ông bị thương, bị nhiễm chất độc da cam, tháng 6/1971 ông chuyển ngành về Bưu điện tỉnh Hải Dương.

Năm 1987 ông được đề bạt làm Giám đốc Công ty điện thoại, điện báo Hải Dương cho tới năm 1996 ông nghỉ hưu về vui thú cảnh điền viên với người vợ hiền và “tăng tốc” lục trong “kho thơ” để thêm mắm dặm muối làm cho “bữa tiệc” văn học nghệ thuật của ông càng thêm thi vị.

Ông khởi động lại thời gian về với tuổi thơ ông, đầy ắp các kỷ niệm hồn nhiên ngày cắp sách tới trường: “Nhớ năm nào đi cắt cỏ chăn trâu/ Vẫn lấy bông lau làm cờ đánh giặc/ Lấy bẹ chuối làm gươm, đao, giáo, mác/ Lấy lá bàng làm chiếc mũ quan thiên/ Được thỏa chí “Giữa muôn trùng Tiêu Hán”/ Vẫn mơ hoài giấc mộng “Tiểu Bá vương”.

Cái ý chí bay bay “Tiểu Bá vương” ấy, cũng không thoát được cảm xúc làng đầy sự chày chật của thời đói áo, thiếu cơm, cả nước gồng mình chuẩn bị cho cuộc trường chinh đi cứu nước, và mỗi khi có bão giông tràn về, lũ ngập trắng trời trắng đất nơi quê anh, quê tôi đã khốn khó lại càng thêm gian khó. “Mấy ngày mưa gió triền miên/ Để cho xóm dưới làng trên ngập đồng/ Nghĩ mà tiếc của tiếc công/ Nhìn dòng nước bạc mà lòng xót xa…”.

Xót xa cũng phải thôi, khi những thành quả ít ỏi của thời bao cấp miền Bắc vừa được giải phóng, thiếu thốn trăm bề, nay tay trắng lại hoàn tay trắng, gánh nặng cơm, áo, gạo, tiền lại đè nặng thêm lên đôi vai gầy guộc của mẹ. Lúc tê tái ấy, cậu bé Lê Văn Phương lại phải “Gãi đầu, gãi tóc rối tung, rối mù”.

Tôi và ông là lớp người sống ở thời lam lũ nên xuất phát điểm tình người chúng tôi cũng được gạn đục khơi trong, nay ngồi trà dư tửu hậu với nhau, ông lại tự khoe “Đêm khuya thương vợ thở dài/ Suốt đời áo vá, cơm khoai thương mình…”. Chỉ mấy câu thơ trong bài thơ “Thương vợ” nó đã tự “tố cáo” ông CCB Lê Văn Phương “can tội” đáng yêu, đúng là người đàn ông “mười phân vẹn mười”. Vì thế ông tự hào được “người chê thì ít, người khen thì nhiều”.

Chẳng thế mà giờ đây, ông đã đi qua tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn được bà Hiền, người vợ “song kiếm hợp bích” đã đồng hành trăm năm viên mãn cùng ông, cung thanh của chị, cung trầm của anh cùng hòa thanh phức điệu trong ngôi nhà giản dị mà hạnh phúc còn trên cả tuyệt vời, thì thật là đáng sống đáng yêu quá. Tôi may mắn được ông Lê Văn Phương cứ lúc khoái chí ông lại cưỡi xe máy tới thăm tôi, để tri kỷ những cảm xúc vui, buồn sâu lắng về các câu chuyện tưởng phải đào sâu chôn chặt mãi trong lòng.

Ai ngờ, cái bầu rượu, túi thơ ông lại bảng lảng lời men say, mà rằng “Lấy nhau từ thuở mười lăm/ Anh chê tôi bé không nằm với tôi/ Đến năm mười tám, đôi mươi/ Biết thương, biết nhớ thì người đi xa/ Anh đi cứu nước cứu nhà/ Đầy mình thương tích xót xa cõi lòng/ Tình còn chi nữa mà mong/ Đêm khuya ôm gối đôi dòng lệ rơi/ Nói ra các bạn đừng cười/ Tôi và anh ấy có đôi ba lần”. Và đây là cao trào tột đỉnh khi đọc xong bài thơ “Hai người vợ người lính” thú thật bài thơ đã lấy đi của tôi bao giọt nước mắt.

Tôi tin bạn đọc cũng sẽ bị “trả giá” như thế. “Nhà có hai mẹ con/ Đều là vợ liệt sỹ/ Mẹ chị thương chồng chị/ Chả dám đi lấy chồng/ Chị răng trắng má hồng/ Thương mẹ chồng góa bụa/ Chẳng dám đi bước nữa/ Sợ mẹ chồng buồn thương/ Hai người vợ khói hương/ Cho hai chồng liệt sỹ/ Một nỗi đau thế kỷ/ Biết bao giờ cho nguôi!?”.

Đọc nhiều bài thơ của CCB Lê Văn Phương tôi thấy buốt lòng, một nỗi đau man mác khiến tôi lại bồi hồi nhớ tới cố nhà thơ Huy Cận khi ông ngồi tâm sự với lớp nhà văn toàn quốc chúng tôi về dự tại Hà Nội năm 2000. Ông bảo “làm nhà văn, nhà thơ các anh phải viết về số phận dân tộc và con người, vì dân tộc này đã phải chịu quá nhiều khổ đau của thủy, hỏa, đạo, tặc, thiên tai lẫn nhân tai, nhưng viết sao đừng để bi lụy…”.

Và tôi thấy thơ của CCB Lê Văn Phương có bóng dáng lời khuyên của cố nhà thơ Cù Huy Cận đã gặp nhau một điểm ở trong đó. Với 262 bài thơ xếp có nếp nang, CCB Lê Văn Phương đã làm nổi bật chủ đề người phụ nữ Việt Nam. Anh thông cảm và thương cảm các bà mẹ, người chị, người em gái quê ta thời chiến trận, đảm đang công tác hậu phương “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, cho các trai làng yên lòng đi ra mặt trận giải phóng quê hương đất nước, khi bóng thù xâm lăng Tổ quốc quê ta.

Để rồi cái kết cục man mác buồn xâm chiếm, phục kích mãi trong đời ông hoặc nói đúng ra là cả một thế hệ vàng U70, U80 chúng tôi hôm nay, đúng như lời Chị Nghinh tâm sự: “Lấy nhau ba chục năm trời/ Chung chăn chung gối được đôi ba tuần/ Nghĩ càng tủi phận, tủi thân/ Thương nhau nước mắt chéo khăn thấm đầy/ Người đi góc bể chân mây…/ Khét màu thuốc súng chứa chan nghĩa tình/ Cũng là vì nước hy sinh/ Đắng cay anh chịu, tội tình em mang…/ Người ta có vợ có chồng/ Đắng cay chung gánh, mặn nồng chia đôi/ Còn em đi ngược về xuôi/ Giang sơn một gánh, đầy vơi mặc lòng…/ Ngày mai chiến thắng anh về/ Gặp nhau anh chớ có chê, em buồn”.

Thật là thương quá là thương, chính từ sự chân chất tình người đó mà thơ của CCB Lê Văn Phương đã có cánh bay, càng bay cao, càng khoe sắc hình ảnh tình người, hồn nước, đau đáu những nỗi niềm một thời giấu kín nhưng không hề bi lụy, bi thương. Anh không chỉ nói cho đồng đội, những chiến binh bất tử mà còn khai thác “thâm canh” trên cánh đồng hậu phương không hề thua kém nơi trận mạc cùng tay cày, tay súng còn trên cả tuyệt vời. Anh khắc thơ vào thời gian để những người sinh sau cuộc chiến phải ghi nhớ mà biết tri ân, nếu không muốn “đại bác bắn vào tương lai của họ”.

Có lẽ vì chân lý đó mà suốt cuộc đời CCB Lê Văn Phương ông đã đi cùng trời cuối đất, từ Đông sang Tây, Lào, Trung Quốc, Malaysia, Mông Cổ, Thái Lan, Singapore, Liên Xô cũ, nước Nga hôm nay, nơi ông đã từng tá túc học tập trong thời gian chiến trận. Nhưng dù đi đâu ông cũng nhớ quê nhà, “nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Và nặng lòng hơn là ở nơi ấy có cha, có mẹ, có bạn bè, người thân của ông, có chợ quê “Bà bán bún tềnh hềnh ngồi giữa chợ/ Cả đàn ruồi bu kín bát mắm tôm/ Mấy chú nhặng lăng xăng bên hàng cá/ Mùi tanh tanh quyến rũ nó mê hồn…”. Đọc tới đây tôi mới thấy ông già này rõ khéo, bởi bài thơ có để lộ câu “thầm ước mong buổi sáng được ăn quà”. Đúng là lũ nhặng xanh ngu ngơ kia phải ngả mũ chào bác “chào mào” thay bác mà chịu trận.

Với 262 bài thơ được ông tạm chọn để chuẩn bị cho in trong tập “Đến bốn phương trời”, tôi tin khi sách được trình làng, bạn đọc sẽ được điểm tâm nhiều “món đặc sản” vì ông rỉ tai tôi “Chớ để lộ thiên cơ nhiều nhé”, và ông đọc cho tôi mấy câu thơ rằng “chưa xong thơ phú vạn bài/ Thưa cùng tiên tổ theo người chưa yên”. Tôi gật đầu cam kết và thì thào nói nhỏ vào tai ông “Bố già Khốt Ta Bít này khôn thật là khôn”.

Nhà văn Nam Đông

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : nhà văn nhà thơ Bài thơ biên soạn

Tin Tốc hành Việt tiếp theo

Tin Tốc hành Việt mới nhất