Chủ nhật, 08:15, Ngày 18/08/2019

Gia đình và pháp luật

Huế thương

Bài “Huế thương” là những ghi chép của tác giả nhân chuyến đi chụp ảnh tại Huế mới đây cùng các nhà báo, Nghệ sĩ nhiếp ảnh trong nhóm Đồng Dao (Hà Nội).

Chúng tôi rời Hà Nội đến với Huế vào một sớm heo may đầu mùa thổi những hạt bụi mưa bay trên phố và rắc trên những mái tóc bồng bềnh và trên vai áo những chàng trai, cô gái đang yêu, những hạt bụi thủy tinh óng ánh, chỉ đủ để họ làm duyên khi gặp gỡ. 

Thật lạ, là cùng vào dịp ấy, trên mặt hồ Tĩnh Tâm trong lăng Tự Đức (Huế), những bông sen vẫn đang khoe sắc trắng tinh khôi trên các tán lá xanh ngát dưới Xung Khiêm tạ, thật mát mắt. Một chiều, chúng tôi xuống thuyền, bồng bềnh ngược dòng sông Hương, qua Dã Viên, Kim Long rồi lướt ngang chùa Thiên Mụ, ngôi chùa đẹp nhất Huế và cũng là ngôi chùa đẹp của Việt Nam được dựng giữa đồi Hà Khê trên đất làng An Sinh, từ thế kỷ XIV - dựng lại năm 1601, trước 200 năm khi Gia Long lên ngôi vua, mở đầu Triều Nguyễn.

Chùa có cây tháp Phước Duyên, đứng trang nghiêm trên sườn đồi, hình bát giác, 7 tầng cao hơn 21m. Xưa, trên tầng cao của tháp đặt 3 pho tượng Phật bằng vàng nhưng đã bị bọn lính Pháp cướp từ trước Cách mạng tháng Tám, nay thay vào đó là những bức tượng bằng đồng.

Qua chùa, tới Văn Miếu của Huế, nơi đã hai lần bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tàn phá trong chiến tranh, nay được khôi phục lại. Trong Văn Miếu có hơn 30 tấm bia đá đứng trên lưng rùa, trên đó khắc tên các sĩ tử đậu Tiến sỹ các khoa thi, (nhà Nguyễn không tổ chức thi tuyển Trạng Nguyên) trong đó có các nhà Nho nổi tiếng: Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng... Không xa Văn Miếu là ngã ba Bằng Lăng, nơi hợp lưu của hai dòng Tả Trạch và Hữu Trạch thành con sông lớn nhất Huế mang theo hương của loài cỏ Thạch Xương Bồ, theo gió cuốn hòa vào dòng chảy, tỏa ngát đôi bờ nên gọi Hương Giang, dòng sông của thi ca, nghệ thuật, của gió trăng và những mộng mơ đôi lứa, làm say đắm khách lãng du...

Từ trong vòm mái con thuyền gỗ xuôi dòng dưới ánh trăng chênh chếch thượng huyền, dìu dắt tiếng tơ, tiếng trúc của cây đàn tranh, với da diết giọng hò của ca nương đang độ chín qua lời thơ của Hoàng thân Ứng Bình Thức Gia Thị:

Chiều chiều bên Phú Văn Lâu

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

Nghe câu mái đẩy .....

Giọng hò của ca nương như quyện vào trăng và gió man mác trôi theo mạn thuyền.

Cắm sào trên bến Thương Bạc, chúng tôi rời thuyền dạo qua chợ Đông Ba, rẽ bờ sông Gia Hội rồi qua cửa Phòng Thành tìm đến Tịnh Gia Viên, nhà hàng cơm Vua nổi tiếng của nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà. Bà đã qua cái tuổi xưa nay hiếm và là cháu của viên quan triều Nguyễn, từng qua Pháp và Mỹ hướng dẫn bà con Việt kiều phương pháp nấu ăn theo truyền thống Huế cùng với cung cách ẩm thực cung đình xưa.

Ngôi nhà rất đẹp nằm giữa khuôn viên xanh của hàng trăm cây cảnh và hòn non bộ. Trong những bể cảnh xây chìm, tím đỏ sắc sen và hoa súng, ì oạp tiếng ếch xanh gọi bạn tình. Mải nghe tiếng chim lảnh lót trên cành cao, chúng tôi quên là mình đang ngồi trong Tịnh Gia Viên. Cô gái tiếp chúng tôi xuất hiện giữa khung cửa gỗ chạm với tà áo dài tím, chiếc khăn "Nam Phương" cô đội trên đầu cũng mang màu tím, tím đến lạ lùng, trở thành thơ cùng với cụm từ riêng “Tím Huế”.

Cô gái đi như lướt nhẹ trên sàn gạch, mang đặt trên bàn những nem công, chả phượng, vảy rồng... được bày, xếp theo đúng hình những linh vật ấy, đặc biệt là từng dúm cơm tám được bọc trong lá sen tươi xếp hình kim quy buộc lạt điều, thật lạ và thật đẹp nên trong chúng tôi không ai muốn là người đầu tiên phá đi vẻ đẹp ấy.

Lại chính là cô gái giúp chúng tôi làm công việc khó khăn, gỡ từng chiếc chả nem chỉ nhỏ chừng 2 đốt ngón tay cắm trên quả dứa mang hình chim công, với ánh nến hồng bên trong rồi gắp vào từng bát của khách, lễ phép mời chúng tôi dùng bữa, gợi tôi nhớ, cách nay đã đến chục năm, tôi có dịp vào Huế công tác, đến cậy nhờ anh bạn trước làm việc ở Hà Nội, nay đứng mũi chịu sào tại một cơ quan văn hóa của Huế giúp, cử cho 1 người am hiểu Huế đi cùng, giúp tôi hiểu Huế sâu hơn.

Sớm hôm sau, người được cử đến giúp tôi là 1 cô gái rất đẹp và cũng rất Huế, tha thướt đôi tà áo tím với chiếc quần lụa trắng, tóc xõa phủ đôi bờ vai tròn. Em mang theo chiếc nón bài thơ làm duyên để khi cần, em giúp tôi làm người mẫu cho tôi chụp ảnh. Trò chuyện cùng cô gái, tôi hỏi em điều chi và nói với em điều gì, em cũng “Dạ”, tiếng “Dạ” nghe như gió thoảng, âm thanh thực hay ảo mà sao hớp hồn tôi đến vậy. Một ngày dạo Huế và trò chuyện cùng em, cô gái đã trở thành nàng thơ của tôi từ ấy...

Một sớm, trước khi tham quan Kinh thành Huế xưa, chúng tôi ghé gánh quà sáng ngay đầu ngõ trước khách sạn Hoàng Gia, thưởng thức món bún giò heo Huế. Phải chờ mươi phút mới đến lượt vì khách quá đông. Nâng bát bún, tôi húp thìa canh xem mặn nhạt. Ôi chao là cay! Tôi hít hà và nước mắt dàn dụa. Bà Chủ gánh bún quan sát biết tôi là người Bắc vào nên gọi cô gái đến nhận lại bát bún và đổi cho tôi bát khác. Ôi chao! Sao lại có tấm lòng thơm thảo đến vậy từ một phụ nữ bình thường của Huế thương.

Biết rằng thời gian không cho phép chúng tôi thăm Kinh thành Huế chỉ trong một, đôi ngày nên chúng tôi vịn vào câu ca dao:

Ngọ Môn năm cửa chín lầu

Cột cờ ba cấp, Phú Văn Lâu hai tầng.

Để bắt đầu cuộc hành trình theo hướng dũng đạo, trục Nam Bắc. Bắt đầu là Kỳ Đài sát tường phòng thành, là lớp thành thứ nhất nơi đặt 1 trong 26 khẩu súng thần công, nhìn xuống phía dưới là Phu Văn Lâu nằm sát bờ sông Hương. Trở vào, qua chiếc cầu đá trên sông đào Ngọc Hà là cửa Ngọ Môn, cổng chính của Hoàng Thành là lớp thành thứ 2 được xây dựng từ năm 1833, trên là lầu Ngũ Phụng, cũng là lễ đài nơi vua và triều thần ngự nghe xướng danh các sĩ tử đậu các khoa thi chọn Tú tài, Tiến sỹ...

Đi tiếp tới sân đại triều nghỉ trước điện Thái Hòa, nơi tổ chức các buổi lễ thiết triều. Tiếp tới là điện Cần Chánh, nơi nhà vua làm việc. Rồi qua Tử Cấm Thành, lớp thành thứ 3, trong có cung Càn Thành, cung Khôn Thái, Kiến Trung là nơi ở của vua, hoàng hậu, mẹ và bà nội của vua. Từ Tử Cấm Thành trở vào, quan lại và triều thần không được phép lui tới, trừ vài ông hoạn quan và đám phụ nữ khiêng kiệu.

Trở ra, qua sân Cần Chánh, rẽ phải, chúng tôi dạo trên con đường dài tít tắp, lát gạch đỏ Bát Tràng, những viên gạch từng "xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân" trong ca dao xưa dưới bóng hàng cây cổ thụ rợp bóng, dừng lâu trước điện Phụng Tiên nơi dành riêng cho phụ nữ hoàng tộc đến dâng lễ cúng tổ tiên, bởi các đền, miếu khác phụ nữ trong hoàng tộc cũng không được phép lui tới.

Tiếp đến là Thế Miếu, chúng tôi kính cẩn thắp nén nhang thơm trên các bàn thờ 9 vị vua nhà Nguyễn. Trước sân Thế Miếu là Hiển Lâm các, cao ba tầng, lợp ngói hoàng lưu ly, nơi duy nhất thờ các công thần nhà Nguyễn. Trước thềm đặt 9 chiếc đỉnh đồng cao hơn 2m. Mỗi chiếc đỉnh nặng hơn 1 tấn. Trên mỗi thân đỉnh chạm khắc 18 bức phù điêu thể hiện cảnh đẹp của đất nước và những sinh hoạt của cộng đồng, hòa trong tổng thể của đồ án, thật trác tuyệt.

Mỗi chiếc đỉnh đều mang miếu hiệu của một vị vua: Cao, Nhân, Chương, Ánh, Nghi, Thuần, Tương, Dụ, Huyền. Hầu hết các công trình trong Hoàng Thành Huế đều được thiết kế xây dựng theo kiểu "Trùng thiềm, Điệp ốc". Đó là những ngôi nhà một tầng, ghép nóc nhà sau cao hơn nóc nhà trước, tạo thành các lớp cách biệt, cao dần lên, rất đẹp và sinh động. Đặc biệt là trên các hồi văn, nóc mái, cổ diềm, đầu hồi... đều được trang trí hình tứ linh, được khảm bằng các mảnh gốm, sứ để lại dấu ấn nghệ thuật trang trí đỉnh cao của thời Nguyễn.

Một sớm chúng tôi theo bờ nam sông Hương hướng ra biển Thuận An qua Đập Đá tới thôn Vĩ Dạ, nay đã là phố nhưng sâu phía trong vẫn là khu nhà vườn xưa, cảnh sắc vẫn rất thơ. Các nhà vườn thường có chiếc cổng xây với hai cánh cửa gỗ làm theo kiểu "Thượng song, hạ bản", mở một lối đi giữa hai hàng cây được cắt tỉa công phu.

Nhìn vào trong, đập vào mắt ta là bức bình phong xây theo kiểu cuốn thư, giới hạn giữa sân và vườn trước. Vườn là một tổ hợp các loại cây cảnh: vài khóm tùng, cúc, ít gốc bưởi, hồng, vài khóm trúc, các chậu mai, đào và phía sau nhà là hàng cau và ít cây lưu niên cao vút, tạo nên màu xanh đến vô cùng. Giữa khuôn viên là chiếc nhà rường làm bằng gỗ mít, ba gian, hai chái. Bề mặt hai chái được xây bằng gạch, trổ chữ Đức hoặc chữ Phúc đặt trong hình tròn. Ngăn giữa hai chái với ba gian giữa là hai chiếc vách bằng gỗ, chạm trổ tinh tế thể hiện nét khoáng đạt của tâm hồn Huế. Gian giữa ngôi nhà cổ, thấp bé dành cho người đã khuất có tủ thờ, lư hương, câu đối... gợi nhớ hồn thiêng gia tộc đang dần xa.

Thi sĩ Hàn Mạc Tử trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ viết:

Sao anh không về thăm thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

Vườn ai, mát quá, xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Chúng tôi tiếp tục xuôi bờ Nam, tới Nam Phổ nhìn chếch từ cồn Hến giữa sông Hương sang bờ Bắc là xóm Ngự Viên xưa, cũng chính là vườn ngự uyển, nơi dành riêng cho nhà vua, hoàng hậu và các cung tần, mỹ nữ, rời Hoàng cung dạo chơi, ngắm hoa, thưởng nguyệt.

Nhà thơ Nguyễn Bính có dịp đến Huế và trọ ở xóm Ngự Viên, ông viết:

Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển

Là đây, hoa cỏ giống vườn Tiên

Sớm Đào, trưa Lý, đêm Hồng phấn

Tuyết lạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên.

Và:

Hôm nay có một người du khách

Ở Ngự Viên và nhớ Ngự Viên.

Dọc đường ra cửa biển Thuận An đến với phá Tam Giang, chúng tôi tìm đến làng Dương Nỗ với tấm lòng thành kính nghĩ về Bác Hồ của chúng ta trong những năm thiếu thời theo cha là nhà Nho Nguyễn Sinh Huy được mời vào Huế dạy học tại thôn Dương Nỗ, cách Huế 8km. Cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên Bác Hồ hồi đó) ở đây từ năm 1898 đến 1906, sau đó Bác ra Huế học Trường Quốc Học đến 1910. Cũng năm đó Bác tạm biệt song thân vào Phan Thiết dạy học ở Trường Dục Thanh 6 tháng. Cũng từ đây Bác vào Sài Gòn và trở thành người phụ bếp trên chiếc tàu buôn La Trousse de Tréville vượt trùng dương sang Pháp tìm đường cứu nước.

Đi lại con đường năm xưa ra cửa biển Thuận An, tôi vẫn nhớ như in ngày 26/3/1975, ngày Huế được giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn, tôi cũng đi con đường này để ghi lại hình ảnh đám tàn quân ngụy trốn chạy ra biển. Suốt dọc con đường gần 10km, hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo và vô số vũ khí, quân trang, quân dụng bọn chúng vứt bỏ lại dọc đường làm tắc nghẽn cả 1 đoạn đường dài.   

Tranh thủ ngày cuối trong chuyến đi chụp ảnh Huế, chúng tôi ngang qua chân núi Ngự Bình, quả núi hình thang được coi là lá chắn của Kinh thành Huế xưa, rồi rẽ vào Đàn Nam Giao, nơi trước đây cứ 3 năm một lần, nhà vua đến lễ, tế trời đất cầu cho dân an, mưa thuận, gió hòa. Đàn Nam Giao được xây 3 tầng chồng lên nhau, tượng trưng cho Thiên, Địa, Nhân. Sân lễ tầng trên hình tròn, tầng giữa hình vuông, được xem như “Trời tròn, Đất vuông” theo cách hiểu của người xưa, xung quanh Đàn Nam Giao là rừng thông cao vút, gió rì rào reo suốt ngày đêm.

Xế chiều, từ lăng Tự Đức quay về, chúng tôi trèo lên đồi Vọng Cảnh, ngắm hoàng hôn rực đỏ, tắm trong gương nước Hương Giang, đẹp đến mê hồn, khép một vòng tham quan Huế mộng mơ trong chuyến đi ngược dòng lịch sử trên đất Vạn Xuân xưa.

Bài và ảnh: Đinh Quang Thành

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : du lịch nghệ sĩ nhiếp ảnh Huế Thương

Tin Du lịch tiếp theo

Tin Du lịch mới nhất