Thứ Ba , 19:56, Ngày 26/03/2019

Gia đình và pháp luật

Hơn ba năm xét xử án 'Tranh chấp hôn nhân và gia đình' vẫn chưa xong

Hơn ba năm làm đơn ly hôn nhưng vợ chồng ông Nguyễn Văn Lâm vẫn cứ phải dắt nhau ra tòa hết lần này đến lần khác, thay hết thẩm phán này đến thẩm phán khác nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.

Ai cũng mong muốn mình có một cuộc hôn nhân bền chặt và hạnh phúc trăm năm. Song đâu đó vẫn còn những trường hợp do mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn và không thể kéo dài cuộc sống chung được…Thì ly hôn luôn là lựa chọn cuối cùng, là cách xử sự nhân văn mà xã hội và luật pháp cho phép để tránh khỏi những hệ lụy về sau.

Nhưng đối với trường hợp ly hôn của vợ chồng ông Nguyễn Văn Lâm, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên nhựa Phú Lâm lại khác, ông quá vất vả, khổ sở vì sự giải quyết chậm trễ, kéo dài đến khó hiểu của Tòa án nhân dân TP Thái Bình mà hệ lụy của nó là doanh nghiệp do ông Lâm phụ trách bị rơi vào tình cảnh hết sức khó khăn và đang đứng trước nguy cơ phá sản. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” của ông Nguyễn Văn Lâm đến nay đã hơn ba năm xét xử vẫn không xong?

Điều khiến cho dư luận quan tâm đến vụ án là sau hàng loạt các cuộc hòa giải, sau những phiên tòa xét xử, rồi cho mãi đến khi có phán quyết của TAND tỉnh Thái Bình thì vợ chồng ông Nguyễn Văn Lâm mới có thể ly hôn… nhưng sự việc đâu đã đi đến hồi kết, ông vẫn còn chờ đợi Tòa “giải quyết lại về quan hệ tài sản theo thủ tục sơ thẩm”, để rồi cả hai ông bà, đều đã bước qua tuổi 60 - độ tuổi phía bên kia sườn dốc cuộc đời, vẫn cứ phải dắt nhau ra tòa hết lần này đến lần khác, thay hết thẩm phán này đến thẩm phán khác.

Tòa án đã cho ly hôn thì phải thụ lý bằng một vụ án dân sự, không thụ lý vào án hôn nhân và gia đình.

Cho thấy TAND TP Thái Bình rất lúng túng, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự ngay từ lúc thụ lý cho đến giải quyết, xét xử vụ án nên dẫn đến ban hành một bản án mà “Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa đưa đầy đủ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, mặt khác việc thu thập chứng cứ, tài liệu còn thiếu mà ở giai đoạn phúc thẩm không thể khắc phục được”.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì chỉ có Khoản 1 và Khoản 2 trong 6 khoản thuộc Điều 27, Bộ luật Tố tụng dân sự xác định các tranh chấp tài sản về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là “Chia tài sản khi ly hôn hoặc tranh chấp tài sản trong thời kỳ hôn nhân”, không xác định tranh chấp quyền sở hữu tài sản “sau khi ly hôn” là một loại tranh chấp của án hôn nhân và gia đình. Thực tế, sau khi được Tòa án giải quyết ly hôn, các bên vẫn tiếp tục tranh chấp với nhau về tài sản, Tòa án hướng dẫn các đương sự làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, sau đó thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình với quan hệ pháp luật là “yêu cầu chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân” hoặc “yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn”.

Đối chiếu với Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: Yêu cầu chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân là “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Nhưng trong trường hợp của vợ chồng ông Nguyễn Văn Lâm, các bên đã ly hôn nên không thỏa mãn quan hệ pháp luật này. Còn trường hợp Tòa án xác định quan hệ pháp luật “Yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn” thì Điều 27, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án không đề cập.

Do vậy, việc Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân hai cấp ở Thái Bình đã không nghiên cứu kỹ các quy định của Pháp luật tố tụng, Luật Hôn nhân và gia đình, xác định yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng đã được Tòa án giải quyết ly hôn thuộc loại tranh chấp Hôn nhân và gia đình là không đúng quy định của pháp luật tố tụng.

Trên cơ sở yêu cầu của các đương sự và các chứng cứ được cung cấp tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phải cân nhắc kỹ tính hợp pháp, hợp lý trong việc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng và xác định các tài sản riêng của mỗi người theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các văn bản pháp quy khác.

Khi đủ cơ sở pháp lý để khẳng định rõ khối tài sản chung của vợ chồng là bao nhiêu, bao gồm những thứ gì thì khi giải quyết ly hôn, Hội đồng xét xử căn cứ các quy định từ Điều 95 đến Điều 99 - Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết làm sao đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Nhiều vụ án Hôn nhân và gia đình đa phần phải đưa ra xét xử là do các bên không thỏa thuận được việc phân định tài sản chung của vợ chồng với tài sản riêng của từng người hoặc đối với tài sản có liên quan đến người thứ ba hoặc không thỏa thuận được việc phân chia tài sản.

Cụ thể ở vụ án này, Tòa án khi xem xét yêu cầu của đương sự đã không phân định được đâu là tài sản chung của vợ chồng, đâu là tài sản riêng của từng người, đâu là tài sản có liên quan đến người thứ ba, nhất là những trường hợp trước khi kết hôn, một bên đã được cơ quan thẩm quyền cấp hoặc công nhận quyền sử dụng tài sản riêng, hoặc đất đai, nhà cửa, sân vườn ở dưới quê ông Lâm là đất hương hỏa của cha ông để lại làm nơi thờ tự tổ tiên...

Vậy tại sao, Hội đồng xét xử chỉ dựa trên tình hình thực tế của quá trình sử dụng tài sản đó để xác định ý chí của các bên nhập vào tài sản chung. Từ những sai sót do xác định, phân chia giá trị tài sản chung cho các bên, không đủ chứng cứ để phân định được công sức đóng góp của các bên đối với khối tài sàn chung nên đã xác định tỷ lệ đóng góp theo phương án định tính! Hoặc nếu có xác định được quyền lợi của các bên đối với tài sản chung, nhưng khi phân chia thì không căn cứ vào yêu cầu, điều kiện cụ thể của mỗi bên, đặt tính, chủng loại tài sản đã dẫn đến kết quả phán quyết của Hội đồng xét xử không có tính khả thi, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự.

Để đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội về trách nhiệm của Tòa án trên tinh thần cầu thị, dám nhìn thẳng vào sự thật, xác định rõ phần việc, trách nhiệm của mỗi người trong việc khắc phục những sai sót, tồn tại nêu trên. Muốn vậy, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử cần xem xét thận trọng nội dung, nguồn và giá trị các chứng cứ chứng minh thực trạng của đương sự, chứng minh các yêu cầu về chia tài sản chung, trả nợ chung…

Trường hợp các bên đã được Tòa án cho ly hôn nhưng làm đơn khởi kiện chia tài sản chung (vì bản án, quyết định ly hôn của Tòa án chưa giải quyết phần tài sản chung) thì Tòa án phải thụ lý bằng một vụ án dân sự, không thụ lý vào án hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, khi nghiên cứu hồ sơ các loại vụ án dân sự này, Hội đồng xét xử phải lưu ý kỹ chứng cứ bắt buộc phải có là bản án hoặc quyết định về vụ án hôn nhân mà Tòa án đã giải quyết trước đó.

Các chứng cứ chứng minh về nguồn gốc tài sản, đặt tính của tài sản, loại tài sản, thực tiễn sử dụng tài sản của các bên trước khi ly hôn và nhu cầu sử dụng tài sản của mỗi bên sau khi ly hôn. Phân định rõ tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, trước thời kỳ hôn nhân và sau khi các bên không còn sống chung với nhau nhiều năm nhưng chưa ly hôn, để xác định quyền lợi, phân chia giá trị tài sản và giao tài sản cho mỗi bên đúng với pháp luật, phù hợp với công sức đóng góp của các bên, đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hiện tại và sau này của mỗi bên.

Pháp luật nhà nước ta luôn tôn trọng quyền kết hôn và ly hôn của công dân. Cho nên, kết quả xét xử án Hôn nhân và gia đình phải tuân thủ theo đúng quy định pháp luật. Có như thế, mới góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, gia đình ấm no và hạnh phúc. Điều này đặt ra yêu cầu và trách nhiệm rất lớn cho các Hội đồng xét xử phải khách quan, công bằng. Hy vọng phiên xét xử vụ án lần này của TAND TP Thái Bình khi “giải quyết lại về quan hệ tài sản theo thủ tục sơ thẩm” sẽ đạt kết quả tốt.

Hoàng Anh

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tags : gia đình ly hôn tranh chấp tài sản

Tin Nhịp cầu bạn đọc tiếp theo

Tin Nhịp cầu bạn đọc mới nhất