Thứ Bảy , 00:29, Ngày 20/07/2019

Gia đình và pháp luật

Hải Dương: Kiến trúc nghệ thuật độc đáo của di tích đình Trịnh Xuyên

Đình Trịnh Xuyên là một công trình kiến trúc nghệ thuật tuyệt mỹ mà người xưa đã truyền lại cho hậu thế.

Tôi có dịp ghé thăm đình Trịnh Xuyên trong một lần tới thăm vùng đất văn hóa Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Tại đây tôi đã gặp Trưởng ban Quản lý di tích và được nghe ông kể về những nét thăng trầm của ngôi đình. 

Đình Trịnh Xuyên (hay còn có tên gọi khác là đình Chiềng) nằm tại thôn Trịnh Xuyên, xã Nghĩa An, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Đình đã được công nhận là di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia vào năm 1992. Tương truyền, ngôi đình bắt đầu được xây cất vào khoảng thế kỷ thứ XV, trên một phiến đất đầu làng Trịnh Xuyên về phía Bắc, ngôi đình hiện tại mang nhiều nét kiến trúc thời Hậu Lê và thời Nguyễn.

Đình Trịnh Xuyên.

Từ ngoài cổng đình đi vào, ta sẽ thấy phía trước là tòa đại bái có chiều dài 14m, rộng 8m, gồm 3 gian, 16 hàng cột bằng gỗ lim, xung quanh để trống không xây tường. Tòa đại bái có các mảng điêu khắc chạm trổ các loài động vật như: long mã, rồng, phượng, công, trĩ, chuột, dơi, quy, cùng các loài thực vật gồm: quỳnh, trúc, xen kẽ hoa lá phù dung. Trên mái có lợp ngói mũi, đắp các con sấu, nghê, các đầu rồng gia cố đao guột với mái tóc sóng nước, tất cả được bố trí theo cụm rất hài hòa. Hai bên là hai giải vũ (dãy nhà phụ), một bên là nơi họp hành của các bậc phụ lão trong làng, một bên là nơi để người dân sắp lễ dâng Thành hoàng.

Từ tòa đại bái đi thêm vào khoảng 3m là tiền tế, trung từ và hậu cung nối liền với nhau thành một thể thống nhất. Trước cửa tiền tế là tượng hai ông lính canh đình ở hai bên bờ tường, tay mang long đao, sắc mặt cương nghị. Tòa tiền tế có bộ khung bằng gỗ lim, gồm 5 gian, chiều dài khoảng 20m, rộng 11m. Nhìn lên xà ngang gian trung tâm, ta thấy có treo một bức chạm lưỡng long chầu nguyệt, sơn son thếp vàng rực rỡ, phía dưới là cửa võng với đại tự đề: “Trần triều nguyên soái”.

Đầu vì kèo ngoài cửa là những bức chạm nổi hình hươu, nai, trúc, cúc hay rồng, phượng sinh động, hai bức cốn phía ngoài điêu khắc hình quần long. Ở các vì phía trong chạm đầu rồng, guột mây, hoa, lá, lớp chồng lớp rất sống động. Các bức chạm khắc bên trong đình có đường nét tinh tế, điêu luyện, đầy giá trị nghệ thuật, là một sản phẩm tuyệt vời của trí tưởng tượng, cho thấy bàn tay lành nghề, kỹ thuật điêu luyện của người thợ mộc.

Tiếp nối với trung tâm tiền tế là 3 gian trung từ có kiến trúc đơn giản hơn. Một số chi tiết như đầu dư, đấu có chạm hoa lá cách điệu. Gian giữa của trung từ treo một bức đại tự sơn son thếp vàng, dưới bức đại tự là cửa võng chạm thủng lưỡng long chầu nguyệt tinh tế. Phía dưới được bài trí ban thờ với cỗ kiệu cùng bát cống làm tăng thêm vẻ uy linh. Qua trung từ là hậu cung.

Cửa hậu cung vẽ lưỡng long chầu nguyệt, bên trên là bức võng chạm thủng tích mai điểu, hai bên là tượng hai lính hầu, tay cầm long đao, nét mặt nghiêm nghị. Bên trong hậu cung có cầu thang đi lên một bệ thờ cao, trên bệ thờ để các đồ thờ cúng cùng một cỗ khám có 4 chân cột, cao tầm 1,8m, cột khám chạm hoa dây và rồng bay lượn, sơn son thếp vàng. Trong khám thờ, có một ngai chạm rồng, trên ngai là tượng của Thành hoàng. Tượng cao khoảng 1m, nét mặt uy nghi, thân hình cân đối, mặc hoàng phục họa tiết rồng mây non nước.

Theo thần phả của đình thì vị Thành hoàng được thờ là Vũ Đức Phong. Tương truyền rằng, cha ngài là ông Vũ Danh Thành, quê ở làng Mộ Trạch. Năm 18 tuổi, ông Thành mang theo mình nghề làm thuốc Nam gia truyền đi qua nhiều nơi rồi tới làng Trịnh Xuyên. Tại đây, ông kết duyên với bà Nguyễn Danh Phương. Bà sinh cho ông một người con trai, đặt tên là Vũ Đức Phong. Năm ông Phong 18 tuổi, nhà Trần mở khoa thi kén chọn người tài, ông xin cha cho vào kinh thành ứng thí, lúc thi cử tấu đối lưu loát, được vua Trần Nghệ Tông quý mến giữ lại phong làm võ hầu tướng quân kiêm tham tán.

Ông nhậm chức được 15 năm thì ở ngoài biên ải giặc Chiêm Thành khởi binh, quân số lên đến 10 vạn người, cùng 100 chiến thuyền tiến đánh kinh đô. Vua Trần rất lo lắng, triệu tập bá quan tới triều nghị luận đánh giặc. Ông bèn viết sớ tâu lên, xin vua 10 vạn tinh binh, cùng 100 bè mỏng để đi dẹp giặc. Nhà vua phê chuẩn và cho phép ông tuyển thêm tướng tài giúp sức. Trận đầu phân tranh, quân ông giành thắng lợi, ông cùng các tướng lĩnh tả xung hữu đột, chém được một số tướng Chiêm, bắt giữ được nhiều binh sĩ giặc.

Tuy nhiên, khi giặc bổ sung thêm binh mã tiếp ứng, quân ông không địch lại nổi, liền rút về phủ Lý Nhân, thiết lập 5 đồn cự giặc. Nhưng thế giặc như nước lũ, vây hãm tứ phía, ông mang long đao trên lưng ngựa, cùng quân tướng, bộ thuộc phá vòng vây, vừa đánh vừa rút để nhử giặc, hãm bước tiến quân của chúng, để vua Trần và triều đình rút lui an toàn khỏi kinh thành. Ông cùng quân tướng tiếp tục chiến đấu rồi rút về xã Đông Kết, huyện Đông An, phủ Khoái Châu. Giặc ráo riết truy kích, các tướng sĩ vẫn trung thành theo ông.

Thấy thế quân suy yếu, sớm muộn cũng sẽ bị giặc bắt, không muốn chết trong tay giặc, ông ra lệnh cho quân tướng rút lui để bảo toàn lực lượng, còn mình ông ra giữa sông Đông Kết, ngửa mặt lên trời khấn bái rồi tuẫn tiết để giữ trọn chữ trung. Hôm ấy là ngày 10 tháng 5 năm Ất Mùi (âm lịch). Khi giặc đã lui, đất nước thái bình, vua Trần vô cùng thương tiếc vị tướng quân trung liệt, truyền dân xã Đông Kết lập miếu thờ, hương khói đều đặn. Nhà Trần truy phong ông là: “Đạo quang minh sĩ đại vương”, “Trần triều nguyên soái”.

Các triều đại sau cũng phong sắc tước cho ông. Tại đình hiện còn giữ được 3 đạo sắc phong các thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Nhân dân làng Trịnh Xuyên cũng nhớ tới ân đức của ông, lập cung miếu thờ phụng, rồi tiếp tục tôn ông làm Thành hoàng làng. Vào ngày 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, dân làng mở hội cúng tế, dân trong vùng đến lễ bái, hội hè, vô cùng đông đảo.

Hiện tại, lễ hội đình Trịnh Xuyên được tổ chức trong 4 ngày, từ ngày 9/2 đến ngày 12/2 âm lịch, trong đó, ngày 10/2 âm lịch (ngày sinh của Thành hoàng) là ngày chính hội. Xuyên suốt các ngày lễ hội, bên cạnh phần lễ, Ban Quản lý di tích cũng tiến hành tổ chức phần hội, bao gồm: giao lưu văn nghệ, tổ chức thi đấu thể thao, tổ chức các trò chơi dân gian như: chọi gà, đi cầu thùm, bịt mắt đập niêu, đặc biệt là thi đấu pháo đất truyền thống… thu hút đông đảo người dân địa phương cũng như khách thập phương tới tham gia.

Với sự quan tâm đặc biệt từ phía các cấp chính quyền cùng sự đóng góp, hưởng ứng tích cực từ phía người dân, lễ hội đình Trịnh Xuyên được tổ chức ngày một chu đáo hơn. Ngày 8 tháng 6 năm 2015, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL, chứng nhận Lễ hội đình Trịnh Xuyên là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, khiến người dân nơi đây càng thêm phấn khởi, gia sức phát huy giá trị di sản.

Chạm tay vào từng hàng cột, bức tường, cửa gỗ trong đình, những thứ đã in hằn dấu tích thời gian, mộc mạc và cổ kính, rồi lại trông đằng xa ra phía ao đình, chợ thôn, tôi chợt cảm thấy như đang đắm chìm trong không khí làng quê Bắc Bộ thuở trước, cái không khí làng quê thuần hậu, chân chất, dịu êm trái ngược hẳn với cuộc sống đô thị xô bồ.

Trong lòng tôi dâng lên một cảm giác hoài cổ, một cảm giác lạ lùng về không thời gian, hình dung ra hình bóng phảng phất của những con người từng ra vào nơi đây, từ xưa tới nay, già trẻ, lớn bé cùng tụ họp tại đình để sinh hoạt, tế lễ, cầu mong thần thánh chở che, phù hộ, mưa thuận, gió hòa, gia đình được an khang, thịnh vượng, đất nước thái bình, ấm no.

Và thật may mắn cho những đứa trẻ nơi đây, được đắm mình trong không gian văn hóa thấm đậm hồn cốt dân tộc, nhẹ nhàng, sâu lắng. Những đứa trẻ được nuôi dưỡng trong không khí làng quê thuần hậu ấy, sẽ có được đời sống tinh thần phong phú, tâm hồn giàu đẹp, dù đi đâu cũng sẽ mang theo trong tim mình hình bóng quê hương, vững bước đi, vượt qua mọi khó khăn, thử thách trên đường đời.

Đặng Thanh Nhật

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : hải dương di tích lịch sử đình Trịnh Xuyên

Tin Du lịch tiếp theo

Tin Du lịch mới nhất