Thứ Bảy , 00:18, Ngày 20/07/2019

Gia đình và pháp luật

Hải Dương: Cần kiểm chứng lại lời khai của nguyên đơn trước khi phán quyết

Để vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất tại Hải Dương được xét xử công bằng, cần phải xem xét, kiểm chứng lại lời khai của các nguyên đơn.

Căn cứ vào Bản án sơ thẩm số 06/2018/DS-ST ngày 29/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương về việc kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất ao của nguyên đơn - cụ Nguyễn Thị Thịnh, sinh năm 1937, trú tại thôn Lại Xá, xã Thanh Thủy, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, ủy quyền cho con trai là Hoàng Xuân Du, sinh năm 1962 và bị đơn là ông Nguyễn Đức Hoàn, sinh năm 1962, địa chỉ đều như trên và Bản án phúc thẩm số 38/2018/DS-PT ngày 8/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, y án như Tòa sơ thẩm đã tuyên: “Buộc bị đơn… phải trả cho nguyên đơn 120m² ao…”. Qua phân tích hai bản án, chúng tôi thấy cần phải kiểm chứng lại các lời khai của nguyên đơn, tập trung vào các tình tiết sau:

Theo lời khai của các nhân chứng có họ với cả hai bên nguyên đơn và bị đơn, được ghi nhận trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Nguyễn Đức Khương khai với tòa ngày 6/10/2017 rằng, ông có quan hệ họ hàng với hai bên, trước đây ông ở gần nhà cụ Thịnh và cụ Ngày (bố ông Hoàn). Diện tích đất ao là của cụ Hoàng Xuân Tịch và cụ Phạm Thị Nhờ, sau đó không biết lý do tại sao cụ Thịnh và cụ Ngày mỗi người sử dụng ½ ao của thửa đất số 175, tờ bản đồ số 5, tổng diện tích là 240m². Cụ Tịch sau đó chuyển ra Quảng Ninh ở với các con, có chuyển nhượng hay cho tặng giữa các cụ hay không thì ông không biết.

Ông Nguyễn Đức Tim khai với tòa ngày 6/10/2017 rằng, ông có họ hàng với cả hai bên, trước năm 1968, toàn bộ diện tích ao (240m²) là của cụ Hoàng Xuân Tịch quản lý, đến năm 1969, cụ Tịch bán ½ = 120m²/240m² diện tích ao cho vợ chồng cụ Ngày, cụ Cách.

Ông Hoàng Thương khai vào ngày 25/7/2017 rằng, ông có họ hàng xa với cụ Thịnh, ông Hoàn. Bố ông là Hoàng Xuân Tịch (mất năm 2012), mẹ ông là Phạm Thị Nhờ (mất năm 1979). Ông có nghe bố kể lại, năm 1967, gia đình có chuyển nhượng nhà đất ở quê cho ông Ngày, bà Cách để ra Mạo Khê, Quảng Ninh làm ăn, không biết việc chuyển nhượng có lập văn bản không vì thời gian quá lâu.

Và qua nhiều lời khai khác đều xác nhận nguồn gốc đất là của cụ Tịch, cụ Nhờ chứ không phải là của cụ Tự, cụ Thịnh như lời khai của ông Hoàng Xuân Du con cụ Tự, cụ Thịnh với tòa hai cấp. Nhưng tòa án không công nhận các lời khai này, với lý do: “Các lời khai là của những người có họ hàng với hai bên”. Việc bác bỏ các lời khai này là không phù hợp pháp luật, vì không có điều luật nào quy định những người trong họ hàng, nhất là của cả hai bên, là những người gần gũi và hiểu biết cặn kẽ nhất, lại không được làm chứng. Chẳng lẽ những người xa lạ không biết gì về nguồn gốc đất lại được coi trọng chứng lý?

Vậy không tin dân làm chứng, thì tại sao lại không tin vào bản tự khai của Phó Chủ tịch thường trực Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Thanh Hà, ông Trịnh Văn Thiện, đã khẳng định: “Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) không hề có tranh chấp, hồ sơ xử lý cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Đức Hoàn trước đây đã đóng dấu chữ ký của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Hưng là công khai, đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật”.

Bản tự khai của Phó Chủ tịch thường trực UBND huyện Thanh Hà gửi Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Theo ông Thiện, năm 2001, sau khi tỉnh Hải Hưng đã tách thành Hải Dương, Hưng Yên, thực hiện Quyết định số 2326/QĐ-UB ngày 24/7/2000 của UBND tỉnh Hải Dương về việc xử lý những GCNQSDĐ đã đóng dấu, có chữ ký của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Hưng trước đây không còn giá trị pháp lý, để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất khi được cấp GCNQSDĐ, UBND xã đã thông báo cho các hộ gia đình trong xã biết và đề nghị các hộ đem GCNQSDĐ đến giao lại cho UBND xã để được xem xét, xác nhận tính pháp lý của GCNQSDĐ. Đồng thời, đề nghị các hộ tự kiểm tra lại các nội dung ghi trong GCNQSDĐ đối chiếu với thực tế sử dụng đất và xác định kết quả theo nội dung được cung cấp.

Và tại tờ khai theo thông báo này, cụ Hoàng Xuân Tự và cụ Nguyễn Thị Thịnh, số GCNQSDĐ cũ là C923136, số vào sổ GCN: số 994, đã kê khai mục kiến nghị của gia đình là “cấp như cũ”. Như vậy, năm 1992, lần cấp GCNQSDĐ thứ nhất, cụ Hoàng Xuân Tự là 59 tuổi, năm 2001 cấp lại lần 2 là 68 tuổi, đều rất minh mẫn, không có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Thời điểm này, cụ Tịch, cụ Nhờ (chủ đất); cụ Tự, cụ Thịnh; cụ Ngày, cụ Cách tất cả đều còn sống, không một ai có ý kiến gì về việc ông Hoàn được bố mẹ cho 120m² ao do cụ Tịch để lại, đã được công khai trong hai lần đơn xin cấp GCNQSDĐ tại UBND xã Thanh Thủy.

Đặc biệt vụ việc này sau 49 năm, khi các nhân chứng chủ chốt mất hết, lại được “đào bới” ra với các bằng chứng mập mờ rằng, GCNQSDĐ ông Du đã gửi lại địa chính xã, còn địa chính xã lại cho biết: “Ông Phạm Văn Oánh, cháu ruột cụ Thịnh đã nhận thay cụ, có chữ ký lưu tại sổ của UBND xã”, nhưng ông Oánh không thừa nhận mà cho rằng “chữ ký đó là sự nhầm lẫn của việc khác”. Cách trả lời trên liệu có đáng tin, rằng vào cái thời sổ đỏ được ví "quý hơn vàng", điển hình là dân gian khi ấy có câu ví khi bị thất thần một điều gì: “Lại bị mất sổ đỏ hở?”, vậy thì liệu có ai lại đi gửi sổ đỏ cho xã giữ vô điều kiện không?

Vậy lời khai của ông Hoàng Xuân Du có đúng và khách quan không? Cơ quan điều tra đã xác minh và có kết luận chính thức chưa? Khi số GCNQSDĐ và số sổ vẫn còn đó, để truy nguyên nguồn gốc của sự thật không phải là khó tìm. Chỉ khi làm rõ bản chất của sự thật thì phán quyết đúng, sai của vụ kiện mới khách quan và khoa học nhất.

Chúng tôi đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà Nội và Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội công minh xem xét lại trình tự tố tụng, để có bản án đúng luật, đúng việc, tránh thiệt thòi, oan sai cho người dân.

Nguyễn Nam - Nhật Thanh

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : tranh chấp đất đai hải dương lời khai vụ án dân sự

Tin Nhịp cầu bạn đọc tiếp theo

Tin Nhịp cầu bạn đọc mới nhất