Thứ Tư , 06:40, Ngày 18/09/2019

Gia đình và pháp luật

Đồng Nai: Quyết định của tòa án đúng pháp luật, hợp lòng dân

Dù bản án "Tranh chấp HĐ chuyển nhượng QSDĐ" TAND huyện Thống Nhất tuyên xử vẫn chưa có hiệu lực nhưng có niềm tin TAND tỉnh Đồng Nai sẽ tiếp tục bảo vệ công lý.

Trong các ngày 07 và 11 tháng 12 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đã xét xử công khai vụ án dân sự theo Quyết định 21/2018/QĐXXST-DS ngày 15/11/2018 về việc “Kiện đòi quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất” và “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự: Bà Trần Ngọc Sương (nguyên đơn), bà Trần Ngọc Nhanh (bị đơn). Tham gia tố tụng còn có: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mã Thu Hoàng và bà Nguyễn Thị Lan Chi là người làm chứng.

Bản án số 108/2018/DS-ST ngày 11-12-2018 V/v “Kiện đòi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” và “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Theo đơn khởi kiện, tài liệu do các bên cung cấp nhằm chứng minh nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất và quá trình quản lý sử dụng quyền sử dụng đất, thể hiện như sau: Vào ngày 22/11/1994, bà Sương đã mua thanh lý Xí nghiệp sấy chuối thuộc Liên doanh 3 tại ấp Võ Dõng, xã Gia Kiệm theo chủ trương của Ủy ban nhân dân xã Gia Kiệm và Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, với tổng giá trị hóa giá ở thời điểm đó là 280.000.000 đồng, là toàn bộ số tiền cá nhân của bà Sương.

Do bận nhiều công việc nên bà Sương đã nhờ ông Lê Ngọc Ngữ và sau đó là bà Trần Ngọc Nhanh đại diện đứng tên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, bao gồm: Lô đất có diện tích 3.920m2 gồm 1.200m2 đất xây dựng và 2.720m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa 133, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai; lô đất có diện tích 3.915m2 thuộc thửa 133, tờ bản đồ số 11 (nay là thửa số 450, tờ bản đồ số 34), tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Sau nhiều lần yêu cầu bà Nhanh lập thủ tục giao trả quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất bất thành, bà Sương đã gửi đơn khiếu nại đến chính quyền địa phương nhờ can thiệp. Ủy ban nhân dân xã Gia Kiệm đã nhiều lần mời đến hòa giải nhưng bà Nhanh đều vắng mặt.

Ngày 15/6/2015, Ủy ban nhân dân xã Gia Kiệm gửi Báo cáo số 23/UBND đến Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất về việc không tiến hành hòa giải được theo quy định pháp luật. Vụ án dân sự được Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất thụ lý ngày 16/6/2016 theo đơn khởi kiện của bà Trần Ngọc Sương. Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, bà Nhanh đã đồng ý trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà bà Sương đã nhờ bà đứng tên. Ngày 04/05/2017, sau khi bà Sương rút đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 23/2017/QĐST-DS.

Nhưng khi làm thủ tục sang tên thì bà Sương chỉ nhận được quyền sử dụng đối với diện tích đất là 3.915m2 thuộc thửa 450, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Về phần diện tích 3.920m2 đất thuộc thửa 132, tờ bản đồ số 11 xã Gia Kiệm theo Giấy chứng nhận số 02707/QSDĐ/861/QĐ-UBH do UBND huyện Thống Nhất cấp ngày 11/7/2002 vẫn chưa thể lập thủ tục sang tên. Vì trước đó, bà Nhanh đã giao giấy tờ này cho bà Lan Chi nắm giữ để vay số tiền 700.000.000 đồng.

Trong quá trình tố tụng tại tòa, bà Nhanh có yêu cầu phản tố việc khởi kiện của ông Mã Thu Hoàng về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực, yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mã Thu Hoàng và bà Nhanh giao kết phần diện tích 3.920m2, thuộc thửa 132, tờ bản đồ số 11 tại xã Gia Kiệm là vô hiệu. Ngoài ra, bà Nhanh còn yêu cầu ông Hoàng trả lại cho bà Nhanh bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V176855 do UBND huyện Thống Nhất cấp cho bà Nhanh vào ngày 11/7/2002 để bà Nhanh lập thủ tục chuyển trả cho bà Sương theo quy định của pháp luật.

Lời trình bày của bà Nguyễn Thị Lan Chi phù hợp với lời khai của bà Nhanh: Bà Chi cho bà Nhanh mượn tổng cộng số tiền là 700.000.000 đồng, có giấy biên nhận. Bà Nhanh đã trả được số tiền 200.000.000 đồng, chuyển khoản qua Ngân hàng Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh. Bà Chi khẳng định giữa bà và bà Nhanh không lập thủ tục chuyển nhượng lô đất nói trên. Bà Chi chỉ giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để làm tin. Nhưng do bà Nhanh không trả tiền đúng hẹn nên bà Chi đã giao toàn bộ giấy tờ, trong đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng để đòi nợ giúp bà.

Về trình tự thủ tục chuyển nhượng đất và tài sản gắn liền với đất, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất nhận định: Nếu ngay tình thì trong giao dịch không thể bỏ qua các giai đoạn thỏa thuận giữa các bên như xem xét tài sản, thỏa thuận về giá cả, đặt cọc… Nhưng ở đây, việc thực hiện hợp đồng diễn ra rất đơn giản. Cụ thể, các bản khai cũng như tại phiên tòa, ông Hoàng và người đại diện đều thừa nhận sau khi bà Trần Ngọc Nhanh ký, điểm chỉ vào bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà Nhanh đã bỏ trốn (vì bị khống chế) khi đến Phòng Công chứng để ký kết. Tình tiết này, đủ khẳng định bà Nhanh hoàn toàn không tự nguyện khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; chủ thể ký kết hợp đồng không thỏa mãn điểm b, Khoản 1 Điều 117 và Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tòa nhận thấy giá trị tài sản chuyển nhượng ghi trong hợp đồng giữa bà Nhanh và ông Hoàng không phù hợp với giá trị thực tế. Hồ sơ vụ án thể hiện giá trị theo định giá thửa đất số 132, tờ bản đồ số 11 diện tích 3.920 m2, cùng tài sản trên đất là trên 2 tỷ đồng, nhưng giá trị trong hợp đồng thể hiện chỉ 200 triệu đồng là không phù hợp.

Hợp đồng giao kết giữa bà Nhanh và ông Hoàng không được công chứng đã vi phạm Khoản 2, Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015; không có sự đồng tình của bà Nhanh qua hồ sơ và phù hợp với lời khai tại phiên tòa của ông Hoàng là bà Nhanh bỏ trốn trước khi đến Phòng Công chứng để ký kết, đã thể hiện rõ sự không tự nguyện của bà Nhanh; phía ông Hoàng cũng không xuất trình được bất kỳ chứng cứ nào chứng minh việc bà Nhanh có nhận tiền của ông Hoàng.

Từ những phân tích trên, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất cho rằng hợp đồng giữa bà Nhanh và ông Hoàng chỉ là hợp đồng giả cách, không dựa trên cơ sở tự nguyện của chủ sở hữu tài sản đã vi phạm Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”. Và tại điểm a, Khoản 3, Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực.

Vì vậy, tòa tuyên xử “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mã Thu Hoàng - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với bị đơn là bà Trần Ngọc Nhanh đối với diện tích 3.920m2 đất thuộc thửa 132, tờ bản đồ số 11 tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai… Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao kết giữa bà Trần Ngọc Nhanh và ông Mã Thu Hoàng đối với diện tích 3.920m2 đất thửa 132, tờ bản đồ số 11 tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai là vô hiệu.

Buộc ông Mã Thu Hoàng phải trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Ngọc Nhanh được Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất cấp ngày 11/7/2002, số V176855 để bà Trần Ngọc Nhanh lập thủ tục trả quyền sử dụng đất cho bà Trần Ngọc Sương”.

Vừa qua, rất nhiều ý kiến của cử tri các tỉnh, thành phố về hoạt động cho thuê tài chính và kinh doanh dịch vụ đòi nợ có chiều hướng phát triển và tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù, Bộ Tài chính đang trình dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định số 104/2007/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cũng đã có văn bản gửi Bộ Tài chính đề nghị đưa loại hình hoạt động đòi nợ vào danh mục ngành nghề cấm kinh doanh. Trường hợp này, ông Mã Thu Hoàng không đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ, nhưng đáng tiếc, tòa án không kiến nghị cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ.

"Vay nợ" là quan hệ dân sự hoặc hợp đồng kinh tế. Khi có tranh chấp, các bên tham gia thỏa thuận hoặc khởi kiện để tòa án giải quyết. Nhà nước có đầy đủ hệ thống pháp luật, cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật như tòa án, thi hành án... Đối với các vụ việc đã có quyết định, bản án của tòa án có hiệu lực thì cơ quan thi hành án, thừa phát lại… sẽ có thẩm quyền thi hành. Do đó, không cần thiết phải có thêm hoạt động đòi nợ thuê.

Mặc dù Bản án dân sự số 108/2018/DS-ST ngày 11/12/2018 mà Hội đồng xét xử sơ thẩm TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử vẫn chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định nhưng với niềm tin nội tâm, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai sẽ tiếp tục bảo vệ công lý, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân bị xâm hại. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi thông tin và chuyển tải nội dung vụ việc đến bạn đọc.

Minh Hoàng - Bá Vương

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : tranh chấp hợp đồng TAND

Tin Nhịp cầu bạn đọc tiếp theo

Tin Nhịp cầu bạn đọc mới nhất