Chủ nhật, 11:57, Ngày 21/07/2019

Gia đình và pháp luật

Chuyện lạ ở Quận 8, TP.HCM: Công nhận cho nhà bằng miệng?

Đó là nội dung của vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn phường 5, quận 8, TP.HCM.

Trước đó chính quyền địa phương đã công nhận việc cho nhà bằng miệng, sau đó hợp thức hóa việc cho này là cấp giấy chủ quyền. Từ đó, phát sinh tranh chấp và qua hai cấp xét xử đều công nhận việc cho nhà bằng miệng này. Xem ra, đây đúng là chuyện lạ mà dư luận đang rất quan tâm và đặt ra vấn đề liệu có khuất tất gì đằng sau đó?

Công nhận chuyện cho bằng miệng

Mới đây, ngày 15/06/2017, TAND cấp cao tại TP.HCM đã đưa vụ án “Tranh chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất” đối với nhà và đất tại địa chỉ số 1183/17 đường Phạm Thế Hiển thuộc P.5, Q.8 (TP.HCM). Kết quả, Tòa đã tuyên án giữ nguyên bản án sơ thẩm không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn do bà Lê Thị Thu Hà (SN 1965, ngụ tại địa chỉ căn nhà trên); là người đại diện cho các anh chị em trong gia đình đồng khởi kiện.

Qua đó chấp nhận việc… “cho bằng miệng” đối với căn nhà diện tích 47,5m2 mà bị đơn là ông Nguyễn Văn Thanh cùng bà Lê Thị Thêm (vợ ông Thanh). Việc “cho bằng miệng” này cũng được chính quyền địa phương chấp nhận, sau đó cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông Thanh, bà Thêm mà không hề xác minh những người thân trong gia đình cũng như yêu cầu hàng xóm ký giáp ranh. Cũng tại phiên tòa phúc thẩm này, vợ chồng ông Thanh vắng mặt và chỉ có luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham gia.

Nói về nguồn gốc của căn nhà tranh chấp này, bà Hà cho biết: “Căn nhà và diện tích đất căn nhà này thuộc thửa 88 tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại 1183/17, đường Phạm Thế Hiển, P.5, Q.8, (TP.HCM) do cha tôi là ông Lê Văn Khương tạo lập từ năm 1955. Năm 1977, mẹ tôi là bà Nguyễn Thị Sáng (ông Thanh là con riêng của bà Sáng – PV) đã tiến hành kê khai nhà cửa. Tiếp đến là giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa vào năm 1990, của UBND Q.8 cấp cho bà Sáng cùng bản vẽ hiện trạng (năm 1996) của Phòng Quản lý đô thị quận này”. Sau đó, mẹ tôi mất cũng tiến hành kê khai tài sản để lại cho các đồng thừa kế nhưng không hề có tên vợ chồng ông Thanh”.

Bà Lê Thị Thu Hà trình bày vụ việc

Cũng theo bà Hà, việc ông Thanh, bà Thêm cho rằng nhà đất đang tranh chấp thuộc QSH của mình vì căn cứ vào GCN QSDĐỞ và QSHNỞ được UBND Q.8 cấp vào năm 2007. Để được cấp GCN QSDĐ, bà Thêm khai diện tích khuôn viên đất này có nguồn gốc do ông Lê Văn Khương cho bằng miệng vào năm 1990.

“Trước đó, năm 1999, bà Thêm có kê khai đăng ký nhà đất: Nhà không số cạnh số nhà 1183/31 Phạm Thế Hiển với diện tích 48m2 thuộc thửa 266 tờ bản đồ số 2E. Tình trạng pháp lý nhà đất là chưa có giấy tờ hợp lệ. Tuy nhiên, tại cấp tòa sơ thẩm, ông Thanh lại cho rằng nhà đất đang tranh chấp là do vợ chồng ông tạo lập vào năm 1977. Như vậy là ông Thanh, bà Thêm khai báo không trùng với vị trí nhà số thửa đất do bà Nguyễn Thị Sáng đứng tên”- bà Hà thông tin thêm.

Còn theo các đồng nguyên đơn đều khẳng định: “Vào năm 1989 – 1990, vợ chồng ông Thanh do hoàn cảnh khó khăn không nơi nương tựa nên được ông Khương, bà Sáng cho ở nhờ trong 1 phòng khoảng 15m2 của căn nhà 1183/17. Đến ngày 25/02/2008, ông Thanh bà Thêm bỗng dưng được UBND Q.8 cấp GCN QSDĐỞ và QSDNỞ từ số nhà 1183/17 đổi thành 1183/9/6 thuộc thửa đất 88, tờ bản đồ số 25 (diện tích 47,5m2) nằm trọn trong thửa đất do bà Nguyễn Thị Sáng kê khai năm 1994, UBND Q.8 đo vẽ hiện trạng năm 1996”.

Trong một đơn tường trình vào ngày 01/03/2017, bà Lê Thị Bé Hai (chị ruột của ông Thanh – PV) cho rằng từ năm 1988 đến năm 1989, gia đình ông Thanh sống ở Gò Công. Đến năm 1990, sau khi ông Khương mất thì mới xin mẹ cho các em ở nhờ. Vậy thì, làm sao ông Thanh có thể tạo lập được tài sản của mình vào năm 1977 như khai ở cấp tòa sơ thẩm?

Nhiều vấn đề pháp lý cần làm rõ

Trao đổi với phóng viên, luật sư Ngô Việt Bắc thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM, Trưởng văn phòng Luật sư Sài Gòn - Tây Nguyên nhận định: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, việc ông Thanh, bà Thêm tạo lập căn nhà cũng như nguồn gốc đất được cấp là không rõ ràng. Thế nhưng, đã không được Toà án cho đối chất, xác minh làm rõ sự mâu thuẫn trong lời trình bày của các đương sự là vi phạm Điều 88 Bộ luật Tố tụng Dân sự, cũng như không cho xem xét thẩm định tại chỗ.

Bởi lẽ, biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ là nguồn chứng cứ quan trọng. Tuy nhiên, trong quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, Toà án không xem xét, thẩm định tại chỗ là vi phạm khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004. Cũng theo luật sư Ngô Việt Bắc đối với sự việc này có 3 vấn đề nổi cộm cần phân tích rõ.

Thứ nhất, GCN QSHNỞ và QSDĐỞ số 3969/2008/GCN do UBND Q.8 cấp cho ông Thanh, bà Thêm vào ngày 25/02/2008. Về vấn đề này, căn cứ theo tờ trình về nguồn gốc đất của bà Thêm ngày 21/8/2007, được UBND P.5 xác nhận thì thửa đất xin cấp GCN của ông Thanh bà Thêm không có các giấy tờ về QSDĐ theo quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.

Căn cứ quy định tại khoản 6.6 Mục 1 Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính thì: “Đơn vị đo đạc lập bản đồ địa chính (gọi chung là đơn vị đo đạc) có trách nhiệm xem xét cụ thể về hiện trạng sử dụng đất, ý kiến của những người sử dụng đất liền kề để xác định và lập bản mô tả về ranh giới thửa đất; chuyển bản mô tả ranh giới thửa đất cho những người sử dụng đất có chung ranh giới thửa đất và người nhận bản mô tả có trách nhiệm ký xác nhận bản mô tả này. Sau 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được bản mô tả nếu như người nhận bản mô tả không có đơn tranh chấp về ranh giới thửa đất thì ranh giới thửa đất được xác định theo bản mô tả đó”.

Trong trường hợp này, suốt quá trình kê khai cũng như đo đạc xác minh cấp GCN QSDĐ cho ông Thanh, bà Thêm mà những người sống xung quanh căn nhà 1183/9/6 Phạm Thế Hiển không hề hay biết. Họ cũng không được yêu cầu ký giáp ranh hoặc xác minh trước khi cấp giấy chứng nhận theo quy định. Điều đó cho thấy quy trình cấp GCN QSDĐỞ&QSHNỞ cho ông Thanh bà Thêm của UBND Q.8 là không đúng theo hướng dẫn tại Thông tư 09 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Nhưng khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu huỷ bỏ GCN QSDĐỞ&QSHNỞ số 3969 ngày 25/2/2008 do UBND Q.8 cấp cho ông Thanh, bà Thêm thì Toà án chưa xác định rõ nguồn gốc đất và không xem xét tính hợp pháp của GCN QSDĐ nên đã bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, trái với quy định của pháp luật.

Thứ hai, đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng QSDĐ ở mà ông Thanh, bà Thêm đã ký với ông Nguyễn Văn Lân, bà Dương Thị Lan Mỹ vào ngày 24/6/2013… Vào tháng 12/2012, vợ chồng ông Thanh dọn tới ở nhà mới, các con của ông Khương đã thương lượng với ông Thanh bà Thêm hỗ trợ phần xây dựng (250 triệu đồng) nhưng bà Thêm không đồng ý nên xảy ra tranh chấp. Trong khi UBND phường 5 đang tiến hành hòa giải thì ngày 24/6/2013, ông Thanh bà Thêm ký hợp đồng bán căn nhà 1183/9/6 (nằm trong khuôn viên số nhà 1183/17) cho ông Nguyễn Văn Lân và bà Dương Thị Mỹ Lan.

Đến lúc này các con của ông Khương mới biết ông Thanh, bà Thêm được cấp GCN. Về vấn đề này, mặc dù biết nhà đất đang tranh chấp nhưng bị đơn vẫn cố tình chuyển nhượng cho người khác là vi phạm Điều 15 Luật Đất đai 2003 và Điều 91 Luật Nhà ở năm 2005. Tuy nhiên, Toà án đã không xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là cố tình vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng.

Thứ ba, đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu vợ chồng ông Thanh bà Thêm trả lại diện tích nhà đất đã chiếm dụng trái phép tại thửa đất 88 tờ bản đồ số 25. Thế nhưng, Toà án lại cho rằng: nhà đất toạ lạc tại 1183/9/6 Phạm Thế Hiển, phường 5, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 47,5m2 thuộc thửa đất số 26 C, tờ bản đồ số 2 theo đăng ký kê khai của bà Lê Thị Thêm ngày 03/9/1999.

Phía Tòa tiếp tục nhận định, trong quá trình ông Thanh bà Thêm ở trong căn nhà này từ năm 1987, qua nhiều lần sửa chữa cải tạo cho đến khi được cấp GCN QSDĐỞ&QSHNỞ không có ai tranh chấp. Việc nhận định như trên của phía Toà án trước hết là không chính xác. Vì tại Tờ đăng ký nhà đất ngày 03/9/1999, ở mục đặc điểm thửa đất bà Thêm có ghi: “Tờ bản đồ số 2E thửa đất số 26”.

Như vậy, Tòa án đã nhầm lẫn số nhà với vị trí đất. Bởi vì, một vị trí khu đất có thể có nhiều số nhà nhưng như thông báo của UBND Q.8 cấp GCN QSDĐỞ&QSHNỞ cho ông Thanh bà Thêm tại vị trí số nhà 1183/9/6 không phải nhà đất của gia đình nguyên đơn là thửa 88 tờ bản đồ số 25. Mặt khác, Tòa án đã không tiến hành định giá nhà đất đang tranh chấp mà chỉ dựa trên lời khai của người mua nhà đất là 700 triệu đồng để buộc nguyên đơn phải nộp án phí là không đúng pháp luật.

Như vậy, có thể thấy Tòa án đã không xem xét đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, không căn cứ vào pháp luật để giải quyết vụ án nên đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng quy định của pháp luật. Từ những căn cứ nêu trên cho thấy việc chứng minh, thu thập và đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, thiếu khách quan có nhiều vi phạm pháp luật.

Nhóm PV

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : đất đai tranh chấp đất đai quyền sử dụng đất TP.HCM

Tin Nhịp cầu bạn đọc tiếp theo

Tin Nhịp cầu bạn đọc mới nhất