Chủ nhật, 18:25, Ngày 21/07/2019

Gia đình và pháp luật

Chứng cứ, chứng minh trong luật tố tụng dân sự

Tuần qua, tòa soạn báo nhận được thư của bà Nguyễn Thị Kim O. ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nội dung thư, bà O. hỏi:

“Năm 1994, tôi có mua phát mãi của ngân hàng 02 lô đất với tổng diện tích hơn 2.000 m2 của người khác thế chấp nhưng không trả được vốn và lãi vay theo quy định, bỏ đi nơi khác sinh sống. Đến năm 2011, hai vợ chồng người này quay trở về, dùng vũ lực để chiếm lại lô đất nói trên và khởi kiện gia đình tôi tại tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc trong vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Ngày 02/11/2016, sau khi tôi nộp đơn khởi kiện phản tố thì tòa án buộc chúng tôi phải giao nộp các tài liệu, chứng cứ trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Xin tòa soạn cho hỏi, có phải tòa án cố tình gây khó khăn cho tôi hay không?”

Trả lời:

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.

Điều 94 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định chứng cứ được thu thập từ các nguồn: (1) Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; (2) Vật chứng; (3) Lời khai của đương sự; (4) Lời khai của người làm chứng; (5) Kết luận giám định; (6) Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; (7) Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; (8) Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; (9) Văn bản công chứng, chứng thực; (10) Các nguồn khác mà pháp luật quy định.

Giao nộp tài liệu, chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự, việc giao nộp tài liệu, chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng của tranh tụng cho nên đương sự phải giao nộp đầy đủ và công khai các tài liệu, chứng cứ, trừ trường hợp quy định được giữ bí mật.

Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đã quy định như sau: Đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án: (1) Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự phải giao nộp tài liệu, chứng cứ liên quan; (2) Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.

Đương sự phải giao nộp, nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự. Theo quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ. Khi tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.

Trường hợp lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng thì không phải ra quyết định. Việc quy định như trên nhằm thể hiện vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong xác minh thu thập chứng cứ trong trường hợp rất cần thiết cho việc giải quyết vụ án, đồng thời cũng khẳng định rõ không phải mọi thu thập chứng cứ đều do Tòa án chủ động thực hiện, như: “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng”.

Trong trường hợp của bà, Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc đã căn cứ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự thông báo việc giao nộp chứng cứ, chứng minh là phù hợp quy định của pháp luật.

Luật gia Đỗ Minh Chánh

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : tòa án tranh chấp dân sự chứng cứ

Tin Tư vấn Luật tiếp theo

Tin Tư vấn Luật mới nhất