Thứ Ba , 12:42, Ngày 20/08/2019

Gia đình và pháp luật

Chú rể ngồi trên xe lăn, câu chuyện tình bây giờ mới kể

Chị cứ chối đây đẩy rằng chuyện của anh chị chẳng có gì mà kể, chuyện cũng đã đi qua mấy chục năm rồi. Nhưng rồi câu chuyện cũng được bắt đầu từ lời kể của anh.

Anh sinh ra ở một làng quê thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. 4 tuổi, anh đã mồ côi mẹ, 2 năm sau lại mồ côi cha. Tuổi thơ anh như con cò, con vạc bơ vơ trên cánh đồng chiều. Năm 1963, như bao chàng trai làng khác, chàng trai Lê Mạnh Tường viết đơn tình nguyện lên đường tòng quân đánh giặc. Anh vào lính trinh sát pháo binh Trung đoàn 174. Đơn vị anh hành quân một mạch từ đất Điện Biên xuống Nghệ An, rồi tắt Trường Sơn sang chiến đấu giúp bạn tại mặt trận Mường Phàn, Thượng Lào. Một năm quần nhau với địch, nhiều phen tưởng như cái chết cầm chắc trong tay, nhờ trời anh vẫn bình yên vô sự.

Rồi một buổi chiều cuối năm, 12 cán bộ chiến đấu trong tiểu đội trinh sát của anh bị dính một dàn mìn của giặc. Sáu quả mìn cùng một lúc nổ tung, tạo tiếng nổ và mức sát thương như một quả bom. Mìn đã làm một chiến sĩ hy sinh tại chỗ còn lại đều bị thương, trong đó Tường là nặng nhất.

Sau lần ấy, chàng thương binh 19 tuổi đã qua nhiều bệnh viện với nhiều lần mổ, nhưng sau bốn mươi năm, mảnh mìn vẫn cứ cư trú trong cột sống của anh đến tận bây giờ. “Thủ phạm” chiến tranh đó đã tước đi một nửa phần cơ thể của anh, dính chặt cuộc đời anh trên giường và trên chiếc xe lăn cùng bao chuyện buồn vui.

Câu chuyện tình giờ mới kể

Khi về khu điều dưỡng thương binh nặng Quang Trung (Thái Bình), chiều chiều anh cùng mấy anh bạn đi xe lăn ra huyện chơi. Hôm đó, cũng vào buổi chiều đầu xuân, trời se se lạnh, mặc thêm một chiếc áo bông bộ đội, “tam mã” nhẹ nhàng lăn xe vào thăm xí nghiệp gạch ngói. Tại đây, rất tình cờ anh đụng đầu với một cô gái dễ thương và rồi từ cái nhìn đầu tiên ấy, họ đã thành chồng, thành vợ.

Đã nhiều năm trôi đi, giờ đây nhớ lại, chị kể, các anh thương binh nặng trên xe là “khách ngoài sân”, vì có mời các anh cũng không vào được. Những ngày đầu, mặc chị Kế toán trưởng nói ra nói vào, chị cũng chẳng tiếp. Những đêm về lòng đã vấn vương. Và chính lúc đó, một mối tình thời con gái lại như sóng dội về.

Là một cô gái khá đẹp nên từ khi học lớp 9, chị đã lọt vào “tầm ngắm” một chàng trai lái xe người làng bên đang công tác trên Hà Nội. Anh chàng ấy si mê theo đuổi chị suốt bảy, tám năm trời khi chị đi học trường kế toán rồi về công tác ở ngành Ngoại thương tỉnh Lai Châu. Lúc đầu thì còn dại khờ nên chị sợ chỉ trốn anh hoài, sau lại ngại ngần đường xa dặm thẳng nên tình cảm của hai người cứ vời vợi theo bao cánh thư tình.

Những năm tháng đó đất nước có chiến tranh, chuyện riêng tư nhiều khi cũng đành gác lại trước công việc, nhiệm vụ được giao. Những tưởng chuyện yêu đương đã tắt theo mối tình đầu ấy, thì đột nhiên cái anh chàng ngồi trên xe lăn có đôi mắt hiền, có nụ cười tươi kia xuất hiện làm cho chị cứ luẩn quẩn, loanh quanh nghĩ ngợi lung tung. Biết đâu, cái tuổi Quý Mùi như các cụ xưa đã tổng kết phải “hai lần đò” nên lần này mới là duyên của chị chăng? Từ hôm đó, chiều nào anh cũng tới, chị chẳng lẩn tránh mãi được.

Qua câu chuyện của anh, chị hiểu thêm những khó khăn trong cuộc sống và sự thèm khát có một có một mái ấm gia đình của những người thương binh nặng. Chị cũng hiểu những mặc cảm, trở lực nặng nề khi họ ngỏ lời cầu hôn với ai. Thương thì thương nhưng nhìn thấy đôi chân teo tóp, khẳng khiu như những cành tre già đặt bất động trên chiếc xe lăn của anh, nghĩ về tương lai của người vợ, chị không khỏi ái ngại, lo lắng cho cuộc sống của mình. Chưa kể đến tác động của bạn bè, gia đình ai cũng thương anh nhưng lại lo cho chị, thương chị.

Thật là ngổn ngang muôn nỗi. Đêm đêm nằm một mình, vắt óc suy nghĩ. Nên hay không? Chị vẫn có thể lấy được người đàn ông lành lặn hơn anh. Duy một điều không thay đổi trong lòng chị, từ khi chị chấp nhận sự tìm hiểu của anh đó là tình thương. Chị thấy những người như anh chiến đấu mang lại yên bình cho đất nước, tự do cho mọi người, nhưng nỗi khổ thương tật lại mình anh gánh chịu. Người con gái nào cũng sợ thì khát vọng mái ấm gia đình của những người như anh chẳng bao giờ thực hiện được. Mưa dầm thấm đất, ngày ngày anh cứ đến nhẹ nhàng, bên chiếc xe lăn còn chị cũng không biết chị đã yêu anh từ lúc nào.

Nghe chị kể lại cái ngày chị đưa anh về ra mắt gia đình, thật có một không hai, cảm động vô cùng. Từ chỗ chị làm về đến quê đường xa xôi, anh không ngồi xe đạp được nên chị đã quyết định lấy dây cao su buộc từ gác ba ga xe đạp của chị vào xe lăn của anh để kéo anh. Trời nắng, chị thì gầy yếu, xe và anh thì nặng. Thế mà hàng chục cây số đường chị vẫn nhũng nhẵng kéo anh. Dọc đường đi, bao người qua lại ai cũng ngoái nhìn với con mắt đầy ái ngại. Những lúc lên dốc cầu, mồ hôi chị thấm trán, mệt muốn đứt hơi. Anh về trình diện đúng vào hôm nhà có giỗ, họ hàng đủ cả.

Cơm nước xong, anh đặt vấn đề với gia đình. Chỉ cần thấy hình ảnh chị kéo anh về nhà ăn giỗ, mọi người đã thấy quyết tâm của chị đến nhường nào.

Năm 1980, anh chị tổ chức đám cưới. Cơ quan hai bên tổ chức hôn lễ rất chu đáo. Chị không bao giờ quên được hình ảnh chú rể ngồi xe lăn ôm bó hoa tặng cô dâu, kéo cô dâu lại gần mình. Giây phút, ấy mấy trăm người dự đám cưới như lặng đi. Nhiều người cảm động rơi nước mắt và từ đôi mắt chị, những giọt nước mắt tự nhiên chảy. Chưa bao giờ chị cảm thấy thương và yêu anh như thế!

Hành trình đi tìm kiếm tiếng cười con trẻ

Kể đến đây, chị bóc cam cho anh, cho tôi. Lúc này nhìn vào khóe mắt anh, tôi thấy có những giọt sáng long lanh. Cưới nhau xong ở khu tập thể, ai cũng phải công nhận chị Vị là người thương, chăm sóc chồng chu đáo nhất. Chị nấu nướng kỹ càng để anh không bị bệnh đường ruột, chị thay đổi món ăn hàng ngày tăng thêm gia vị để anh ăn ngon miệng hơn…

Anh chị quyết định lấy nhau là đã chấp nhận tất cả, đã mường tượng cuộc sống vợ chồng sẽ như thế nào rồi. Nhưng sau những ngày hạnh phúc ấy, nỗi buồn không biết từ đâu vẫn cứ xâm chiếm, len lỏi vào chiếc giường này, căn phòng này. Một nỗi buồn không thể nói thành lời, không thể nói cùng ai. Bao đêm thương vợ, anh ngồi lặng im như tảng đá. Còn chị thương anh nên nuốt nước mắt vào trong. Cả hai cùng thương nhau nhưng biết làm thế nào được…

Chiến tranh đã cướp của anh những đứa con để chị không thể có niềm vui làm mẹ. Hai năm trời đằng đẵng bữa cơm ăn quay đi, quay lại vẫn chỉ có hai người, cửa nhà không có tiếng trẻ thơ buồn như trấu cắn. Năm 1982, chị bí mật lên khoa sản bệnh viện tỉnh đặt vấn đề xin đứa con nuôi. Chị sợ bàn, anh lại không đồng ý.

May mắn làm sao, chị xin được một bé gái mới sinh trắng trẻo, bụ bẫm. Chị đưa con về nhà mẹ đẻ, nhờ bố mẹ trông nom con giúp chị. Ban ngày đi làm, trưa tối tranh thủ đạp xe về với con. Một tháng sau, chị đưa con về khu tập thể. Bình thường một người mẹ không có sữa, hoặc không đủ sữa nuôi con là đã vất vả vô cùng. Đằng này, chị vừa nuôi con nhỏ, vừa phải chăm sóc một thương binh nặng. Đêm ngày phải ninh gạo nấu cháo, nghiền vắt nước cơm để cho con bú. Vất vả không thể kể thành lời.

Tưởng có thêm cháu bé sẽ sưởi ấm căn nhà của chị, nào ngờ vào một đêm tối gió mùa đông gào thét, khi cháu đã đủ 4 tháng tuổi, mặt trời này đã tắt ánh bình minh, mang bóng tối u buồn trùm lên căn phòng của chị. Cháu bị đi ngoài, anh chị đưa cháu ra bệnh viện huyện rồi đưa lên bệnh viện tỉnh cấp cứu, nhưng tất cả đã quá muộn…

Chị Vị lấy khăn thấm giọt nước mắt và tâm sự với tôi những lời gan ruột như là sự sám hối với một linh hồn thơ dại: “Một nỗi ám ảnh của tôi, có lẽ do tôi không có kinh nghiệm làm mẹ nên mới ra nông nỗi ấy! Mà sao ông trời ăn ở không công bằng đến vậy, không cho vợ chồng tôi một đứa con dù chỉ là một đứa con nuôi?”. Nghe những lời day dứt khôn nguôi của chị, tay bút của tôi tự nhiên như cứng lại trên trang giấy. Bỗng cảm thấy buồn tê tái cho những số phận bất hạnh ở đời.

Nhìn những gương mặt buồn trĩu nặng, đôi bàn tay đầy chai sạn của chị quặn vào nhau, tôi đã hình dung câu chuyện chưa phải đến hồi kết. Vẫn giọng chậm như từ sâu thẳm tâm linh vọng lại, chị kể tiếp như là câu chuyện cổ tích đời thường: “Ba tháng sau ngày cháu bé mất, hôm đó là vào 8 giờ sáng 28/12/1982, anh Tường lăn xe ra chợ thì có một chị gọi giật lại cho biết, có một người vừa sinh một cháu bé trai song do hoàn cảnh không thể nuôi được. Anh liền bỏ cả chợ, về bảo tôi. Tôi nửa mừng, nửa lo.

Sau phút định thần, tôi tức tốc đạp xe đến đó. Một phụ nữ tầm 20 tuổi vừa sinh nên rất yếu, nằm bên cạnh là một bé trai, chung quanh không có một thứ đồ đạc gì. Tôi hỏi chuyện, người phụ nữ đó vừa khóc vừa nói nỗi éo le khó xử của mình nên không thể nuôi đứa trẻ được. Tôi về bàn bạc với anh. Hai vợ chồng đều như gà phải cáo, chỉ sợ đón cháu về như lần trước thì khổ cho trẻ, khổ cho cả mình.

Trong lúc rối tung như mối tơ vò, vợ chồng tôi đã tìm được một “sáng kiến” là đón hai mẹ con về nuôi dăm bảy tháng, khi nào cháu nhơn nhớn thì để người mẹ đó đi. Biết chuyện này, ai cũng bảo đây là chuyện chưa từng có trên đời, chưa từng thấy ai xin con nuôi như thế bao giờ. Bàn thì vậy nhưng không biết họ có đồng ý không. Khi nghe trình bày của gia đình tôi, gia đình của người phụ nữ kia đã nhất trí. Thế là vợ chồng tôi cho võng cáng đón cả hai mẹ con về nuôi.

Tại căn phòng chật chội này, ngày ngày vợ chồng tôi chăm sóc hai mẹ con rất chu đáo nên cháu cũng chóng lớn. Giờ hành chính tôi vẫn còn đi làm, nhà tôi lóc cóc lăn xe đi chợ, trưa tôi tranh thủ về sớm cơm nước cho cả nhà. Bao đêm tôi gần như thức trắng phục vụ hai mẹ con chẳng khác gì một người mẹ đón con gái, đón cháu đang cữ về nhà nuôi. Vất vả lắm anh ạ! Lúc đó thời bao cấp, phân phối từng cái kim sợi chỉ, lương của hai vợ chồng ba cọc ba đồng, kinh tế vợ chồng tôi lúc đó rất hoàn cảnh.

Ước mơ mua được cái phích nước đựng nước nóng mùa đông cho con mà cũng không sao mua được. Tôi nhớ, hơn hai tháng, bên nhà người phụ nữ gọi cô ấy về cấy hái, vợ chồng tôi sợ ảnh hưởng đến sữa cho cháu bú nên phải chạy tiền thuê người đến làm thay. Anh bảo có ai như vậy không? Tất cả vì muốn có một đứa con nên phải cắn răng mà chịu, Khi cháu 4 tháng, thì người phụ nữ đó ra đi. Vợ chồng tôi cũng mua sắm quần áo cho cô ấy. Sau cô ấy đã lấy chồng có con cái trên miền Tây Bắc. Và vợ chồng tôi lại nuôi cháu từ đó.

Lại đêm ngày nấu cháo vắt nước cơm nuôi con. Nhờ trời, cháu ăn khỏe, ngoan nết nên lớn nhanh. Bây giờ nhớ lại thời đó, kể mãi không hết sự vất vả. Toàn bộ công việc ăn uống, giặt giũ, tắm đẵm cho con, cho con đi học chỉ có một mình tôi. Thời đó, đường trơn lầy lội ngập qua ống chân, ngày ngày khi đi làm tôi cứ kiệu cháu trên vai về đến nhà trẻ, vội vàng đến cơ quan, rồi trưa lại mải miết về nhà đón con, cơm nước cho chồng.

Có thời kỳ, ông bà ngoại phải xuống trông cháu giúp tôi. Nhờ trời cháu khỏe mạnh, ngoan ngoãn, học hành chăm chỉ… Gian lao vất vả nhưng có nụ cười trẻ con trong nhà, tôi biết anh rất vui. Mà anh vui là tôi mãn nguyện lắm rồi”.

Nhóm PV

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : chú rể chuyện tình xe lăn

Tin Mái ấm Việt tiếp theo

Tin Mái ấm Việt mới nhất