Thứ Năm , 12:36, Ngày 18/10/2018

Gia đình và pháp luật

Chiếm giữ Giấy chứng nhận QSDĐ của người khác bị xử lý ra sao?

Tuần qua, Tòa soạn nhận được thắc mắc của bạn đọc ở phường 2, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Nội dung, bạn đọc hỏi:

“Do thua bạc nên em tôi lén lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cha mẹ để vay nặng lãi một số tiền nhưng không có khả năng hoàn trả. Khi phát hiện sự việc, gia đình tôi có yêu cầu họ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, họ không đồng ý và yêu cầu gia đình tôi phải làm thủ tục chuyển nhượng 2.000 m2 đất mới trả lại giấy chứng nhận. Khi công an mời làm việc thì họ chối là không cầm giấy chứng nhận của gia đình tôi. Trường hợp này, gia đình tôi có thể khởi kiện họ được không?”.

TRẢ LỜI

Vấn đề bạn hỏi, chúng tôi xin trả lời như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản. Vì theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự thì: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tiền. Đó chỉ là sự xác nhận về quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức, bản thân nó cũng không phải là quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không phải là giấy tờ có giá.

Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là căn cứ để xác nhận quyền sử dụng đất. Do đó, hành vi giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác không đủ yếu tố để cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trường hợp hành vi chiếm đoạt đó gây ảnh hưởng đến quyền lợi của cha mẹ bạn đối với quyền sử dụng đất đó thì cha mẹ bạn yêu cầu họ trả lại giấy tờ. Nếu họ vẫn không trả thì cha mẹ bạn có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị mất theo quy định tại Điều 77 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/4/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013, cụ thể:

1. Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn.

2. Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương đối với trường hợp của tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người bị mất giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại giấy chứng nhận.

3. Văn phòng Đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy giấy chứng nhậnbị mất, đồng thời ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; …”.

Hành vi dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ép người khác phải đưa tiền hoặc tài sản có thể bị coi là hành vi dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, và có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Hình sự.

Luật gia Đỗ Minh Chánh

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tin Liên quan

Tags : quyền sử dụng đất chiếm giữ tài sản

Tin Tư vấn Luật tiếp theo

Tin Tư vấn Luật mới nhất