Thứ Hai , 21:03, Ngày 24/06/2019

Gia đình và pháp luật

Bản án số 53/2007/DS-PT của TAND tỉnh Hưng Yên đã thấu tình đạt lý?

Ngày 6/8/2007, TAND tỉnh Hưng Yên xét xử vụ "Tranh chấp quyền sử dụng đất”, bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông Trường và anh Đen. Không đồng tình, cả hai đã có đơn khiếu nại lên TAND tối cao.

Nguyên đơn là ông Lương Văn Trường và anh Lương Văn Đen, còn bị đơn là anh Phạm Văn Nghìn. Tại phiên xét xử tòa án đã ra quyết định sửa bản án sơ thẩm của TAND huyện Tiên Lữ ngày 30/5/2007, đồng thời bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Trường và anh Lương Văn Đen. 

Theo ông Trường và anh Đen thì nguồn gốc đất 528 m2 ao là của cụ nội anh Lương Văn Nghìn từ 1970 đã công hữu hóa vào HTX, đến năm 1975 diện tích ao này được chia cho 3 người gồm: ông Sử, ông Trường và bà Chăm (mẹ anh Nghìn). Khi sử dụng diện tích ao này các hộ phải trả bằng chất bột cho HTX, sau đó bị trừ vào % diện tích ruộng ngoài đồng. Năm 1993 thực hiện nghị quyết 03 địa phương đã tiến hành chia ruộng vòng 1 (đất 03) vào diện tích ao trên cho 3 hộ với tỷ lệ 1m2 ruộng = 2m2 ao: hộ ông Trường bị trừ 54m2 đất ruộng = 108m2 ao, ông Sử bị trừ 108m2 ruộng = 216m2 ao, bà Chăm bị trừ 72m2 ruộng = 144 m2 ao.

Tháng 2/2003 bà Chăm đã trả 144m2 ao để lấy ruộng ngoài đồng nên bà chăm được chia ruộng ngoài đồng và không còn sử dụng ao nữa. Cuối năm 2003 địa phương tổ chức chia lại ruộng và trừ của ông Trường 72m2 ruộng = 144m2 diện tích ao, đối với hộ nhà ông Sử do diện tích đất ruộng được chia ngoài đồng đã đủ nên không trừ vào phần ao nữa, phần ao trước đây ông Sử sử dụng đã chuyển sang cho anh Lương Văn Đen (con trai ông Trường). Anh Đen bị trừ 72m2 ruộng = 144m2 ao, việc chuyển này được anh Đen và ông Trường nhất trí và anh Đen vẫn để cho ông Trường sử dụng, còn diện tích đất ao của bà Chăm trả lại cho địa phương không giao cho ai sử dụng. Tuy nhiên đến tháng 9/2004 anh Nghìn được cấp có thẩm quyền cấp bìa đỏ (GCNQSDĐ) đối với toàn bộ diện tích đất ao gồm cả diện tích của anh Đen, ông Trường và bà Chăm.

Còn về phía chị Đào Thị Viết (đại diện cho anh Phạm Văn Nghìn) cho biết, nguồn gốc toàn bộ diện tích ao là của cụ Phạm Văn Soạn (kị nội của anh Nghìn), khi cụ Soạn mất đi để lại cho ông Phạm Văn Quý, ông Quý để lại cho ông Phạm Văn Chăm là bố anh Nghìn, ông Chăm đã cho gia đình nhà chị Viết từ năm 1980, tháng 9/2004 gia đình chị được cấp bìa đỏ, vợ chồng chị đóng thuế cho nhà nước từ 1980 đến nay, đồng thời gia đình chị có 5 cháu (2 vợ chồng và 3 người con, mỗi người được chia 1,1 sào nhưng chỉ có 4 khẩu được chia ruộng ngoài đồng còn 1 khẩu đã được trừ vào để sử dụng diện tích đất ao, việc này được ông Phạm Hữu Của, trưởng thôn Tất Viên thời ký 1993 thực hiện và chứng nhân. Đồng thời chị có xuất trình 2 bản di chúc (1 bản chữ nho do cụ Chắm để lại và 1 bản chữ quốc ngữ do cụ Phạm Văn Dần là em của cụ Chắm viết) với nội dung thể hiện việc cụ Chắm giao đất ao cho cụ Dần quản lý sử dụng khi nào có cháu đích tôn thì giao lại cho cháu đích tôn.

Ông Lương Văn Sử đang đứng trên phần diện tích ao của mình đã nằm trong phần diện tích bìa đỏ của nhà ông Nghìn.

Tuy nhiên, trên theo tìm hiểu thì tháng 2/2003, bà Chăm đã trả và lấy đủ diện tích đất ngoài đồng do vậy diện tích ao trên chỉ còn có ông Sử và ông Trường sử dụng. Việc chị Viết cho rằng gia đình có 5 khẩu (gồm 2 vợ chồng và 3 cháu), trong đó cháu Phạm Văn Nam và cháu Phạm Thị Ngà sinh đôi cùng ngày 28/8/1992 nhưng chỉ có 4 khẩu được chia ruộng ngoài đồng còn 1 khẩu được chia để sử dụng ao là không có cơ sở vì thực tế cháu Nam và cháu Ngà không phải là sinh đôi, cháu Ngà sinh ngày 28/8/1992 còn cháu Nam sinh ngày 28/8/1994, năm 1993 nhà nước có chủ trương chỉ chia ruộng cho những người sinh trước 1/4/1993 còn những người sinh sau 1/4/1993 sẽ không được chia đất. Vì vậy cháu Nam sinh sau 1/4/1993 sẽ không được chia đất.

Còn về việc chị Viết xuất trình 2 bản di chúc chứng minh việc tổ tiên gia đình để lại cho nhà chị diện tích đất ao cũng không có cơ sở, đối với bản di chúc của cụ Chắm thì tại bản đồ 299, diện tích đất ao đã đứng tên ông Phạm Văn Chăm nên cụ Chắm không có quyền định đoạt, còn về bản di chúc của cụ Dần bằng chữ quốc ngữ thì cụ Dần không phải là người chủ sở hữu diện tích đất ao đang tranh chấp nên cũng không có quyền định đoạt.

Bên cạnh đó, ông Phạm Hữu Của là người mà chị Viết cho rằng đã thực hiện và chứng nhận việc trừ ruộng phần trăm cho gia đình chị thì ông khẳng định chưa bao giờ chia ruộng cho chị Viết trừ vào ao, và chưa bao giờ thu thuế của gia đình chị với diện tích ao này, anh Bùi Văn Hàng là trưởng thôn thôn Tất Viên hiện nay cũng xác định hộ chị Viết không có ruộng bị trừ vào ao.

Từ những căn cứ trên cho thấy việc gia đình chị Viết có quyền được cấp sổ bìa đỏ với phần diện tích đất ao đang tranh chấp là không có cơ sở. Và gia đình bà Chăm cũng chưa bao giờ có đơn đề nghị với cấp chính quyền cơ sở chuyển diện tích đất ao sang cho anh Nghìn nên việc Hội đồng xét duyệt và cấp sổ bìa đỏ cho gia đình anh Nghìn bao gồm cả diện tích đất ao nhà ông Trường và anh Đen đang sử dụng mà không có quyết định thu hồi đất là không đúng với quy định của luật đất đai.

Nhưng không hiểu vì sao, tại phiên tòa phúc thẩm do TAND tỉnh Hưng Yên xét sử tại bản án số 53/2007/DS- PT ngày 6/8/2007 thì HĐXX lại chỉ căn cứ vào lời khai của các cá nhân liên quan đến thời gian công hữu và 1 tài liệu mà chị Viết cung cấp thể hiện việc ông Trường  bị UBND xã phạt hành chính 200 ngàn đồng về hành vi đổ đất trái phép vào diện tích ao của gia đình chị Viết. Và cho rằng lời khai của ông Trường và anh Đen khai là không có căn cứ, nhưng những gì cơ quan chức năng thu thập được lại không được đem ra làm căn cứ xét xử, việc chị Viết trình bày tại phiên tòa sơ thẩm không đúng sự thật lại không được nhắc đến.

Chúng tôi xin chuyển đề nghị của ông Phạm Văn Trường và anh Phạm Văn Đen đến TAND tối cao xem xét, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm khi vụ việc còn nhiều uẩn khúc cần được làm rõ.

Đức Nam - Nghĩa Đồng

Nguồn : Kinh doanh & Pháp luật

Tags : tranh chấp đất bản án

Tin Nhịp cầu bạn đọc tiếp theo

Tin Nhịp cầu bạn đọc mới nhất